TỨ ÂN HIẾU NGHĨA

TỨ ÂN HIẾU NGHĨA

Thông tin dưới đây do Lời Phật tìm hiểu nếu có bất cứ sai sót nào xin góp ý qua phần liên hệ.

PHẬT – GIÁO BỬU – SƠN KỲ – HƯƠNG

— OOo —.

HỆ PHÁI.

TỨ ÂN HIẾU NGHĨA.

Tủ sách Sưu Khảo Sử Liệu.

Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.

LỜI GIỚI THIỆU.

—OOo—.

Trước năm 1945, cụm từ BỬU SƠN KỲ HƯƠNG và TỨ ÂN HIẾU NGHĨA tại hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc là khu vực phát triển mà chỉ được truyền miệng trong dân gian, ở xa đó, những người tò mò có thể tìm thấy dấu vết!

BỬU SƠN KỲ HƯƠNG và TỨ ÂN HIẾU NGHĨA thật sự mang hương thơm của trầm hương từ núi sâu và cốc xa phát ra, sau đó lan tỏa trên không gian như mây khói. Khó có thể mô tả được hương thơm này!

Tại sao lại có một cảnh tượng đáng ngạc nhiên như vậy, mặc dù đó là hai Tôn Phái giống như hàng ngàn Tôn Phái khác? Đó không phải là điều lạ lẫm, mà là kết quả của việc truy bắt, săn đuổi và tiêu diệt độc ác của chính quyền thuộc địa trong thời gian đó.

Kể từ năm 1862, đã lâu rồi; vì những sự căm hận và những cáo buộc bất tín của kẻ thù thù địch, chính quyền thuộc địa đã coi Tôn giáo BỬU SƠN KỲ HƯƠNG và sau đó Hệ phái TỨ ÂN HIẾU NGHĨA, một sự phục hồi của BỬU SƠN KỲ HƯƠNG dưới một hình thức khác một chút, là hai tổ chức của các “Tín Đồ Đạo” dưới hình thức Tôn Giáo để thực hiện “Phong Trào Cần Vương” để lật đổ chính quyền Pháp tại Nam Kỳ Lục Tỉnh này!

Có thật như vậy không? Xin phủ nhận: Sự thật hoàn toàn khác, Phật Giáo BỬU SƠN KỲ HƯƠNG và Hệ phái TỨ ÂN HIẾU NGHĨA là một phương pháp của phái Thiền Tông được áp dụng cho người Việt. Chỉ có điều đó và, chỉ có điều đó mà chính quyền Pháp ghét bỏ, cố gắng tiêu diệt hoàn toàn. Vì vậy, phương pháp này đối lập với chính sách đô hộ hóa dân tộc Việt, dẫn đến việc thống trị đất nước mãi mãi!

Tự nhiên bạo chiến thành đó có thể là do cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giúp đỡ dân tộc ta từ lâu. Ngoài ra, Giáo Tổ Tây An và Bổn Sư đều là những vị lai quá khứ phi phàm và thông, vì vậy việc xúi giục dân lành làm loạn là hoàn toàn không đúng. Điều này không chỉ là một sai lầm quá lớn mà còn là một tội lỗi thiêng liêng đối với hai vị Chơn Nhơn hạ phàm. Để cứu dân cứu nước, chúng ta nên tuân theo con đường Thánh thiện từ xưa và học Phật Tu Nhân để giáo hóa chúng sanh.

Quyển sách PHẬT GIÁO BỬU SƠN KỲ HƯƠNG, thuộc Hệ Phái TỨ ÂN HIẾU NGHĨA mà chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quý vị sẽ cung cấp đầy đủ các chi tiết chứng minh quan điểm trên, và thực sự là một nguồn tài liệu quý giá về hai Phái Tôn này. Hy vọng rằng hai tổ chức trên sẽ không còn bị che giấu và sẽ được đánh giá đúng mức trong lịch sử đất nước, như hai nốt nhạc trong bản nhạc thái hòa.

Trân trọng xin có lời giới thiệu.

TRẦN VĂN QUẾ.

Nguyên giáo sư trường Sư Phạm, Giảng Sư tại Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Văn Khoa tại Sài Gòn.

LỜI NGƯỜI BIÊN SOẠN.

Suốt một thời gian dài, chúng tôi đã thu thập tài liệu để biên soạn một tập sách về Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa – một trong những Hệ phái quan trọng của Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.

Tuy nhiên, qua thời gian, những tài liệu đó vẫn đang nằm im trong tủ sách. Vì nhiều nguyên nhân mà chúng tôi chưa dám động vào bộ tài liệu đó, đặc biệt là vấn đề tự ti.

Vì tuổi còn trẻ, kiến thức hạn chế, tôi lo sẽ không đủ khả năng biên soạn một quyển sách về Đạo. Tôi cũng sợ sẽ không thể trình bày một cách đầy đủ và sâu sắc một giáo thuyết đã từng được truyền bá trong một thời kỳ khó khăn và phải đối mặt với sự can thiệp của một giáo thuyết khoa học tiên tiến. Tuy nhiên, giáo thuyết ấy đã vượt qua được những thử thách để trưởng thành và vững mạnh đến ngày nay.

Gần đây có nhiều cơ hội đến gần, khiến chúng tôi từ bỏ sự e ngại, tự tin viết ra quyển sách này.

1. Có những tài liệu và bài viết về Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa chưa đầy đủ và minh bạch.

Nhờ sự giúp đỡ của nhiều bạn, chúng tôi đã có được nhiều tài liệu quý giá và được khuyến khích, đặc biệt là từ các bạn thuộc Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Một số người không rõ nguồn gốc và mục đích của họ. Bây giờ họ đang lợi dụng tên gọi BỬU SƠN KỲ HƯƠNG hoặc Tứ Ân Hiếu Nghĩa để tuyên bố và kinh doanh riêng tư, giống như việc mua bán sử dụng vốn của người khác.

Hiến pháp nền đệ II Cộng Hòa đã thực sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, vì thế cần phải trình bày rõ ràng đường lối tu học của Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, để tránh tình trạng người dân tốt phải chịu đựng nhiều khó khăn, chết chóc do các trào lưu bạo ngược gây ra. Và đây là một nền đạo nhu hòa thuần hậu, một giáo lý không sử dụng bạo lực tín ngưỡng vào thuyết huyền vi.

Vì những lý do đã nêu, chúng tôi chân thành biên khảo và cho ra đời quyển sách này, không quan tâm đến bất kỳ khuyết điểm nào. Trong khi thị trường sách đang bị ngập tràn bởi những tác phẩm khảo luận về Tôn giáo của các tác giả có kiến thức sâu rộng, các nhà thông thái, chúng tôi tin rằng “vạn sự khởi đầu nan” và nếu có bất kỳ khuyết điểm nào trong quyển sách này, những người đọc ở khắp nơi cũng như những người am hiểu về Phật Học sẽ giúp chúng tôi cải thiện trong lần tái bản.

HÀ TÂN DÂN.

A- PHẦN QUÁ KHỨ.

I.- THỜI KỲ KHAI SÁNG.

Dựa trên các tài liệu Phật sử, các Tông phái Nhà Phật đã được truyền từ Ấn độ và Trung Hoa sang Việt Nam, bao gồm Thiền phái Quang Bích, Lâm Tế và các Tông phái được thành lập tại Việt Nam như Thiền phái Thảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử. Tuy nhiên, Hệ phái BỬU SƠN KỲ HƯƠNG của Đức Phật Thầy Tây An đã trải qua nhiều khó khăn nhất. Và sự khai sáng của Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Đức Bổn Sư trên núi Tượng (1879-1890) còn khó khăn hơn nhiều.

Vào thời điểm đó, đất nước vừa trải qua cuộc nội chiến gay gắt giữa chúa Tây Sơn và chúa Gia Long. Cả nước bị tàn phá, mọi quan hệ xã hội đều bị phá vỡ, những người sống sau thời kỳ chiến tranh đó như vừa trải qua một cơn ác mộng. Hầu hết mọi người chỉ còn nhớ những câu Phật hiệu để cầu nguyện khi gặp khó khăn, những triết lý cao siêu của Phật Giáo nói chung, phần lớn đã bị lãng quên. Khi hòa bình trở lại, cần phải tập trung vào việc tu bổ chùa chiền và sao lưu lại các kinh điển đã bị mất trong chiến tranh. Ít có người rảnh rỗi để nghiên cứu những điều tôn giáo, hoặc sáng tác những tác phẩm về tình yêu dành cho đất nước để hướng dẫn những người Phật tử nỗ lực bảo vệ quê hương và đoàn kết xây dựng đất nước như thời Lý, Trần.

Ngoài ra, kể từ khi vua Gia Long xây dựng đất nước cho triều đại nhà Nguyễn, đã có nhiều sự thay đổi về Văn hóa Giáo dục.

Vua đã tận tâm hỗ trợ Nho giáo, đề cao văn học, khích lệ sĩ phu theo đuổi học vấn, tuyển chọn các lớp học Bảng để phục vụ cho công việc quản lý và chăm sóc dân chúng, các tổ chức chùa chiền của Phật Giáo được đưa vào danh sách các tổ chức phụ thuộc.

Phật giáo mặc dù được coi là đạo Quốc gia, nhưng thực tế, mọi người thường coi giới sư sãi là “Thầy Cúng” để sử dụng trong các nghi lễ tế tự, cầu siêu, và đảo võ. Theo các tài liệu văn thơ, Chiếu, Chế, Biểu của các vua triều Nguyễn, Tam giáo (Nho, Thích, Lão) được tôn kính như nhau, nhưng vẫn có sự khinh thường đối với đạo Phật. Các vị văn thần thời đó đã có nhiều lời mỉa mai và chế giễu, điều này không phải là vu khống. Do tình hình đất nước đầy sóng gió, tạo điều kiện cho một số thầy tu “Hổ Mang” ẩn dương nương Phật gây ra nhiều vấn đề và tác hại cho Già Lam. “Một con sâu làm rầu nồi canh” khiến cho người dân xa lánh dần đạo Phật.

Trong thời điểm đó, Thiên Chúa Giáo được truyền bá mạnh mẽ trên khắp Việt Nam, các truyền giáo viên của phái này chủ yếu là những người thông thái, học giả, và tận tâm phục vụ theo đường lối của Tòa Thánh. Họ mang đến những điều tốt đẹp và mới lạ từ châu Âu để giáo hóa dân tộc, đồng thời truyền bá giáo lý của Thiên Chúa. Vì vậy, những người đầu tiên gia nhập Thiên Chúa Giáo đều là những người có học thức, giàu có, quý tộc, quan chức hay chủ nông trại, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của Phật Giáo trở nên chậm chạp.

Ngoài ra, trong thời điểm đó Phật giáo không có những giảng sư tài ba như Sư Vạn Hạnh đời Lý hay Sư Giác Hoàng đời Trần để chỉ dẫn đa số Phật tử trở nên vĩ đại, mạnh mẽ trong việc cứu nước, giúp dân và giữ vững giá trị của chân truyền Phật giáo Việt Nam trong những thời kỳ đầy khó khăn.

Tình hình xã hội đang không thuận lợi cho Phật giáo, cộng thêm tình trạng nội bộ đạo lý suy đồi, triết lý của đạo Phật chỉ còn là một khái niệm mờ nhạt. Ngay cả những vị quyền thần vào thời điểm đó cũng đã lên tiếng phàn nàn về tình hình hiện tại.

“Các sư trong chùa là những người thiếu kiến thức, trốn thuế trái phép, lười biếng và thường xuyên vi phạm pháp luật. Ngược lại, các giáo sĩ Công giáo Âu là những người thông minh và chăm chỉ, cũng như giàu có. Họ có tấm lòng rộng lớn, giúp đỡ những người nghèo khó và tôn trọng luật pháp của chính quyền.”

Từ đó có thể thấy tinh thần Phật Giáo đã bị suy thoái hoàn toàn, mọi người đã coi thường, khinh rẻ. Vì vậy, việc khai sáng Hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Đức Phật Thầy Tây An và Đức Bổn Sư trở nên rất khó khăn.

Ngoài ra, từ khi Đức Bổn Sư khai đạo vào năm 1867 đến khi Ngài nhập diệt vào năm 1890 trong thời gian đó, nước ta đã phải đối mặt với nhiều thách thức từ giặc giã và triều đình vừa dẹp xong vùng này thì lại có chỗ khác nổi lên như ong vỡ tổ. Hơn nữa, Hòa ước năm Nhâm Tuất (1862) do triều đình ký kết với Pháp với những điều kiện bất lợi cho bên ta, đã khiến cho sĩ phu trong nước cảm thấy xấu hổ với sự suy yếu của Quốc thể và nổi lên chống giặc khắp nơi.

– Ông Trương Công Định lập chiến khu chống Pháp tại vùng Gò Công, Gia Định, Định Tường.

– Ông Nguyễn Trung Trực vùng Tân An và Kiên Giang.

– Ông Nguyễn Hữu Huân vùng Mỹ Tho và Cần Thơ.

– Ông Thiên Hộ Dương vùng Cao Lãnh, Tháp Mười.

– Ông Phan Tôn, Phan Liêm vùng Vĩnh Long và Trà Vinh.

– Ông Trần Văn Thành (Cố Quản Thành) vùng biên giới Châu Đốc và An Giang.

Và còn những anh hùng khởi nghĩa tụ tập thành những nhóm nhỏ không thể kể hết. Vì quân Pháp đã chiếm thành Gia Định vào năm 1859, và đánh chiếm Định Tường, Thủ Dầu Một và Tây Ninh vào năm 1861.

Vào năm 1862, Biên Hòa và Vĩnh Long đã bị chiếm đóng. Bản Hòa ước Nhâm Tuất (1862) được ra đời để triều đình có thể trả lại hai tỉnh này cho Pháp. Điều này đã dẫn đến hậu quả như đã được đề cập, và các anh hùng liệt sĩ đã chiến đấu với giặc Pháp trong vòng mười năm, trước khi chấp nhận sự thực dân của Pháp.

Các anh hùng chống lại thực dân, trong đó có ông Trần Văn Thành, có mối liên hệ sâu sắc với Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ông Thành là một vị cao đồ của Đức Phật Thầy Tây An, và hầu hết các nghĩa sĩ dưới quyền ông đều là tín đồ của Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông mở chiến khu Bảy Thưa tại vùng Nhà Láng (Thất Sơn) dựa vào 7 ngọn núi để kháng chiến chống lại Pháp. Tuy nhiên, khi lực lượng cuối cùng tan rã vào khoảng năm 1873, nhiều nghĩa sĩ đã rút vào rừng sâu và núi thẳm để tránh bị bọn tay sai đánh đập. Vì vậy, việc truyền bá giáo lý Tứ Ân Hiếu Nghĩa và sắp xếp lại đạo lý luân thường của Đức Bổn Sư đã trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Sự hỗn loạn không ngừng gây ra sự đảo lộn trong cộng đồng. Con người đã trải qua nhiều cơn ác mộng và lo sợ cho cuộc sống của mình, và thiết yếu là tuân thủ đạo đức và quy tắc xã hội. Có thể những cụ già đang ngồi dưới ánh đèn khuya nhắc lại những chiến công và những giá trị văn hóa truyền thống của ông bà để con cháu họ học hỏi.

Dù ai cố gắng giữ gìn truyền thống văn hóa, cũng khó tránh khỏi sự ảnh hưởng của môi trường vật chất. Sự sống tồn buộc con người phải chịu đựng và thích nghi với những thay đổi của thời đại, và đa số người chỉ biết tìm cách kiếm sống và đóng thuế.

Đối với vấn đề tín ngưỡng, không được tự do tổ chức hoặc hành đạo mà phải tuân thủ sự sắp xếp của chính quyền Pháp. Do đó, xã hội Việt Nam thời điểm đó đã xuất hiện những tầng lớp mới.

1/- Những người theo đuổi sự hỗ trợ từ người nước ngoài và sử dụng các chiêu trò độc ác để khủng bố cộng đồng nhằm tạo ra sự giàu có và tiện nghi cho bản thân.

2/- Hạng người vì nước non dân tộc, chống lại mọi hình thức xâm lăng, áp bức.

3/- Hạng người mua quan bán chức, tìm mọi cách dựa nương với quan thầy Tây để làm chủ nhơn ông.

Hầu hết mọi người đang chạy trốn, từ một tỉnh sang tỉnh khác, mang theo vợ con để tìm nơi ẩn nấp trong rừng sâu hay núi cao, để tránh khỏi nguy hiểm và phải kiếm sống mỗi ngày. Họ chỉ mong đợi sự giúp đỡ của các cơ quan cứu trợ để vượt qua khó khăn này.

Có lẽ vì thời đại mà trật tự bị đảo lộn, mọi người đang phải đối mặt với khó khăn. Đức Bổn Sư đã mở đạo để giúp đời người, sửa đổi lại đạo lý luân thường và bảo vệ những người yêu nước đang bị khủng bố. Người ta được hướng dẫn đi theo con đường Chân, Thiện và Mỹ và cũng được dẫn dắt để trở về đường đúng đắn.

1.- LƯỢC SỬ ĐỨC BỔN SƯ.

NGÀI TIẾP NỐI HOẰNG HÓA PHẬT GIÁO BỬU SƠN KỲ HƯƠNG VỚI DANH XƯNG HỆ PHÁI ”TỨ ÂN HIẾU NGHĨA”.

Đức Bổn Sư được sinh ra tại quận Mõ Cày (Kiến Hòa) vào giờ Ngọ, ngày mùng 5 tháng 5 năm Tân Mão (1831). Ngài mang họ Ngô, tên thật là Viện và được biết đến với biệt danh Lợi. Cha của Ngài là ông Nhàn, làm nghề thợ mộc. Ngôi làng của Ngài trước đây nằm ở xã Bình An (Định Tường) và gia đình đã dời về Mõ Cày khi mẹ Ngài đang mang thai. Cha của Ngài qua đời khi Ngài còn nhỏ và Ngài sống cùng với bà mẹ góa cho đến khi trưởng thành.

Chưa rõ Ngài đã sống ra sao khi thiếu hoạt động xã hội, nhưng có lẽ do duyên nên Ngài hiểu đạo và truyền bá Giáo lý Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho mọi người, đặc biệt là trong cộng đồng Học Phật Tu Nhơn cho đến ngày nay.

Vào ngày 29 tháng 4 năm Tân Hợi (1851), Ngài đã tròn 21 tuổi và sáng tác quyển Kinh đầu tiên có tên “BÀ LA NI KINH” để dạy người ta tu niệm. Từ đó đến năm Bính Dần (1866), các tài liệu lịch sử ghi nhận rằng Ngài đã truyền đạo và giảng kinh hàng năm, nhưng không nói chính xác Ngài đã truyền đạo ở đâu. Vào năm Đinh Mão (1867),…

Vào thời điểm Ngày Ngọ ngày mùng 5 tháng 5, Ngài đã nhập môn thiền và tu hành trong vòng 7 ngày đêm. Sau khi tỉnh dậy, Ngài có một cuộc sống mới và dạy học những bài học quan trọng cho mọi người. Ngài chỉ quyết định theo đạo Thiên Chúa vào năm Canh Ngũ (1870) khi đã 39 tuổi.

Vào ngày 15 tháng giêng năm Nhâm Thân (1872), Ngài đã tổ chức một cuộc họp tất cả các tín đồ và đi trên các chiếc thuyền trên sông Cửu Long đến xã An Lộc, tổng An Lương thuộc tỉnh An Giang để truyền bá giáo pháp tại khu vực này. Từ đây, Ngài đã đi khắp vùng Tây Nam Bộ.

Vào tháng 7 của cùng năm, Ngài đã xây dựng một ngôi chùa tại xã Bình Long. (Trong lúc Ngài đi, Ông Sư Vãi đi bán khoai khuyên đời tu niệm ở Ta bà, tuy chưa chắc chắn Ông Sư Vãi và Đức Bổn Sư là một, nhưng có sự trùng hợp thời gian và Sấm Giảng, như được trích dẫn từ đoạn đầu Sấm Giảng Người đời của ông Sư Vãi).

Hạ ngươn Giáp Tý đầu năm,.

Gẫm trong thiên hạ không an chỗ nào!

Lại thêm lục tỉnh tân trào,.

Nhơn điền sổ bộ biết bao nhiêu người.

Thấy vui mà chẳng dám cười,.

Bơ vơ tôi, chúa gẫm đời không cha.

Có người ở Cù lao Ba,.

Phật sai xuống thế mới ra cứu đời.V.V…).

Vào tháng giêng năm 1876, vào giờ Thìn ngày 19, Ngài ban lệnh cho một người cao đồ tên Trần Tịnh đi trước vào núi Tượng (Thất Sơn) để chuẩn bị cho việc khai hoang, thiết lập chùa miếu và mở thôn ấp mới. Ngài hướng dẫn đám tín đồ đi vào núi Tượng để thảo trảm. Vào thời điểm đó, Ngài đã 45 tuổi và đang truyền đạo tại Cù lao Ba (xã Vĩnh Thành, quận An Phú, tỉnh Châu Đốc hiện nay).

Vào ngày 28 tháng tư năm 1879, Ngài đã truyền thọ phép Tâm niệm Bồ Đề cho tất cả các tín đồ. Không phân biệt giới tính, mọi người đều được trì niệm bình đẳng. Sau khi hoàn thành niệm pháp này, số lượng được ghi vào sổ để điền vào sớ điệp cúng. Công quả của việc này được gọi là “Pháp Công Cứ” (sẽ được giải thích trong phần Hành Đạo).

Những chương sau).

Tập hợp các tài liệu có sẵn, kết hợp với các câu chuyện, cuộc đời và ngành công nghiệp của Đức Bổn Sư có thể được chia thành năm giai đoạn.

– Thời kỳ thứ Nhứt, từ đản sanh đến tỏ ngộ. (Tân Mão 1831 – Đinh Mão 1867).

– Thời kỳ thứ Nhì, từ tỏ ngộ đến lập thôn An Định tại núi Tượng (1867 – Bính Tý 1876).

Trong Thời kỳ thứ Ba, từ khi khai hoang lập thôn ấp tại núi Tượng để lan truyền rộng khắp giáo thuyết Tứ Ân Hiếu Nghĩa (1876 – Canh Ngũ 1879).

– Thời kỳ thứ Tư, từ phổ biến giáo lý đến pháp nạn (1879 – Giáp Thân 1884).

– Thời kỳ thứ Năm, từ tái thiết chùa miếu đến Đức Bổn Sư viên tịch (1884 – Canh Dần 1890).

Tóm lại, từ khi Ngài sinh vào năm Tân Mão (1831) đến khi đạt được sự chứng đắc Đạo quả vào năm Đinh Mão (1867), trong suốt 36 năm đó, không ai biết rõ Ngài đã trải qua những gì.

Từ vị Chứng minh đạo quả đã hướng dẫn tín đồ vào núi Tượng (xã Ba Chúc, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc hiện nay) để lập thôn ấp và khai hoang trong 9 năm từ 1867 đến 1876. Trong thời gian đó, Ngài cũng truyền đạo tại Cù lao Ba và đi khắp nơi, thay đổi hình dạng để hòa mình vào nếp sống của dân chúng để truyền đạo.

Ông đã thành lập một khu phố và truyền bá tôn giáo tại núi Tượng trong vòng 14 năm. Ông qua đời vào ngày 13 tháng 10 năm Canh Dần (1890) khi đã 59 tuổi. Ông đã sống đời ngoài xã hội trong 20 năm và truyền bá đạo pháp trong 39 năm.

2- SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA THỜI GIAN DẠY ĐẠO VÀ ĐỊA ĐIỂM THIẾT LẬP CHÙA MIẾU.

Nếu nhìn vào thời kỳ Đức Bổn Sư truyền giáo và lập giáo, chúng ta sẽ nhận thấy đó là thời điểm tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam. Bởi vào năm Giáp Tuất (1874), quân Pháp chiếm được toàn bộ Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Mọi thứ đều bị thay đổi. Mọi cấu trúc trong nước đều bị đảo ngược. Các thành phố trở nên giàu có và đầy những người nước ngoài. Trong khi đó, những vùng quê có tài nguyên thì bị các quan lại tham ô và bóp nát. Còn lại chỉ là những vùng núi rừng hoang sơ, bùn đất chua và nước mặn. Tại những nơi này, dân bản địa còn có thể tránh được sự tàn ác của kẻ tham lam và những lời mời gọi của người nước ngoài. Có lẽ vì thế mà Ngài đã chọn địa điểm này để thiết lập lại cấu trúc và sắp xếp lại đạo nghĩa luân thường. Và cũng để bảo vệ cho những người yêu nước Cần vương trong cuộc chiến chống lại Pháp và tìm nơi ẩn nấp.

Ngoài ra, những người tuân thủ Tứ Ân Hiếu Nghĩa phải bồi thường 4 khoản nợ, trong đó bao gồm nợ Quốc vương thủy thổ và nợ Đồng Bào Nhơn Loại. Chính vì vậy, họ không thể “rời khỏi thế gian” để tu luyện cho bản thân mà phải “hòa nhập thế gian” và lo lắng cho gia đình, đất nước và dân tộc trong tình trạng khó khăn. Tôi trích dẫn một đoạn trong bài giảng NGŨ GIÁO của Ngài để giải thích ý nghĩa của từ “TRUNG”.

”Một Trung thờ Phật kính Thầy,.

Hai Trung thờ chúa mình gầy chớ than.

Ba Trung Phụ Mẫu lưỡng toàn,.

Ấy là ba chữ rõ ràng chẳng sai”.

(Thuở trước ở theo Tam Cang của đạo Nho: Quân, Sư, Phụ.

Ba cai này có Vua làm chủ. Thêm vào đó, trong thời điểm đó các chuyển động Văn thân, Cần Vương cũng ủng hộ việc đuổi đánh kẻ thù nhằm phục hồi lại sự độc lập cho Vua.

Ngài còn kêu gọi đoàn kết, thương yêu nhau trên tinh thần xã hội bằng những lời bác ai và thống thiết:.

”Xin đừng ỷ phú hiếp bần,.

Ỷ mình sang trọng hiếp phần cô đơn.

Nhơn sanh Thiên số bớ dân,.

Sang giàu thì trọng cơ bần thì khinh!”.

Ông khuyên các tín đồ nên tự lực cánh sinh, khai thác đất đai để trồng trọt và nuôi sống bản thân. Đừng phá rừng, lấy cát đá núi để xây nhà, hỗ trợ lẫn nhau và tập trung vào việc tu niệm. Không nên dựa vào người khác và tự cứu lấy bản thân. Đặc biệt, không nên tham lam giàu có nhờ tiền của người khác.

Tài liệu cũng cho biết, khi Ngài dẫn dắt tín đồ lên núi Tượng, có rất đông người, nhưng không rõ số lượng chính xác là bao nhiêu?

Chỉ có thể thấy rằng: Dân số đông đúc, nhà cửa xây dựng gần như “chồng chất nhau”. Sau khi sơn sửa xong, chủ nhân liền chỉ dẫn tín đồ chặt cây, cắt cảnh để xây dựng chùa tạm thờ (nơi hiện tại là nền chùa Phi Lai) và xây nhà cho tín đồ gọi là Bá gia che mưa chống nắng.

Vào tháng 10 năm Đinh Sửu (1877), Đức Bổn Sư đã bắt đầu xây dựng chùa miếu và hoàn tất vào tháng 11 cùng năm. Ngài đã xây hai ngôi Đình và Chùa, trong đó Đình An Định (phía trước) được dành để thờ trăm quan cựu thần, anh em liệt sĩ. Chùa Phi Lai (phía sau) là nơi thờ Trần Điều nơi chánh điện, và thờ chư Phật và Tiền, Hậu hiền ở hai bên (1). Sau khi hoàn thành ngôi chùa chánh, Ngài đã phác họa sơ đồ thành lập thôn An Định (2)

(1) Chùa Phi Lai và Đình An Định đã được xây dựng lại lần thứ hai vào ngày 19-01 năm Giáp Thân (1884) để đón tiếp đông đảo phật tử đến tham dự lễ cúng.

(2) Đức Bổn Sư tập hợp những tín đồ để thành lập một khu định cư mới, được đặt tên là An Định Thôn, cho đến khi nhà cầm quyền Pháp hợp pháp hóa địa bàn này vào năm Tân Tỵ (1881). Người được bổ nhiệm làm Xã trưởng đầu tiên tên là Lân.

Theo kế hoạch của Ngài, trước tiên là lập thôn An Định, thôn này nằm xung quanh đỉnh núi Tượng hiện tại (còn được gọi là Bạch Tượng sơn). Vào ngày mùng 1 tháng 6 năm Canh Thìn (1880).

Ngài cho thiết lập thêm hai ngôi miếu: Sơn Thần và Mã Châu. Hai ngôi miếu cũng chung quanh hòn núi Tượng.

Vào năm Nhâm Ngọ (1882), sau khi hoàn thành công việc mở rộng đường sá và xây dựng chùa miếu tại thôn An Định, Ngài đã hướng dẫn tín đồ đến khu vực giữa núi Tượng và núi Dài hướng về phía Tây Nam để thành lập một thôn mới mang tên thôn An Hòa (hiện nay được gọi là Ấp An Định và An Hòa, thuộc xã Ba Chúc, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc). Sau khi di dân và thành lập xã An Hòa, vào ngày 15 tháng 4 cùng năm, Ngài đã cho phép tín đồ tại thôn An Hòa lễ bái chung tại ngôi Chùa Phổ Đà.

Cũng vào năm 1882, sau khi thành lập thôn An Hòa xong,.

Ngài đã quay trở về thôn An Định để xây dựng ngôi chùa Tam Bửu. Vào ngày 16 tháng 12 âm lịch, Ngài đã tổ chức lễ thượng lương tại chùa Tam Bửu – nơi Ngài thường trú và cũng là nơi tâm linh của mọi người. Do đó, ngôi chùa này được gọi là Tam Bửu Thường Trụ trong gia đình Bá của Ngài và là địa điểm tâm linh hiện tại của chùa Tam Bửu.

Trong năm sau (Quí Mùi – 1883), Ngài đã chỉ định và sắp xếp cho những người có vị trí cao trông nom hai thôn đã hoàn thành. Ngài đã hướng dẫn một số tín đồ khác đi theo con đường dài đến Tri Tôn, để khai hoang tại địa điểm này và thành lập thôn mới có tên là thôn An Thành (nay thuộc xã Lương Phi, quận Tri Tôn, Châu Đốc). Khi đã xong việc sắp xếp nơi ở và ăn chốn cho tín đồ, Ngài đã tổ chức lễ thượng lương ngôi Châu Linh Tự vào giờ Dần ngày 29 tháng 10 năm Quí Mùi (1883). Đây là ngôi chùa chính để tín đồ ở thôn An Thành thường xuyên đến thờ phượng.

3.- HÌNH THỨC HÀNH ĐẠO CỦA HỆ PHÁI TỨ ÂN HIẾU NGHĨA.

Để gia nhập Đạo Hiếu Nghĩa, người tín đồ cần hiểu sơ qua Tôn chỉ và Nghi thức. Bên cạnh việc cải tạo tâm hồn, đạo Hiếu Nghĩa còn có nhiều Nghi lễ cúng kiếng và tụng niệm. Nếu không am hiểu nghi thức hành đạo, sẽ dễ cảm thấy nhàm chán. Vì vậy, không nhiều người có đủ kiên nhẫn để theo đuổi Đạo suốt cuộc đời.

A)- TÔN CHỈ:.

Tôn chỉ của đạo là “Học Phật Tu Nhơn” dành cho những người tu sĩ tại nhà. Không hạn chế việc kết hôn, kinh doanh, hay kiếm sống theo nghề nghiệp của mình, miễn là không vi phạm quyền tự do của người khác. Không bắt buộc tuân thủ các quy tắc chay khổ hạnh, nhưng nên hạn chế sinh sản. Ngoài ra, cũng có truyền thống ăn 12 con Giáp (như Chuột, Heo, Gà, Trâu, Dê.V.V…) Trong đạo.

Tôn trọng Tam Giáo (Phật, Thánh, Tiên) xem ba tôn giáo này cùng một nguồn gốc. Thực hiện cúng dường, trì niệm theo hình thức của Phật Giáo. Tham gia lễ nghi, học vấn, văn tự theo phương thức của Nho giáo. Tập trung vào rèn luyện Tinh, Khí, Thần theo Lão giáo.

B)- NGHI THỨC:.

Khi gia nhập Đạo, người phải đến chùa vào ngày đầu tiên để tự nguyện quy y. Ông Trò, người được kế tiếp chăm sóc giáo phái sau khi Đức Bổn Sư tịch, sẽ cấp phát Lòng phái cho những người đã quy y. Lòng phái này bao gồm bốn phần:

Tờ Lòng Phái chính được tạo bằng giấy vàng, trong đó ghi rõ tên, tuổi thọ, và sự cam kết tuân thủ phái qui cùng với một bài kinh có khoảng 100 chữ.

Người qui y thọ phái phải học thuộc lòng (Bài Kinh nầy gọi là Lòng phái).

– Một tờ giấy vàng nhỏ, hình chữ nhựt có in trên đó 4 chữ BỬU SƠN KỲ HƯƠNG bằng triện son.

– Một tờ nguyên khổ giấy vàng in trên đó nhiều bùa chú, gọi là Tiên Sanh Thế Độ.

Một tấm vải tây đỏ, có kích thước 3×6 tấc, được in chữ bùa lớn màu xanh. Tên gọi của nó là Tiên Sanh Thái Kiệt.

Thờ Phượng có một bàn nhị đẳng ở giữa nhà (mặt bàn được chia thành hai phần). Trên đỉnh là bàn thờ Quan Thánh Đế Quân, kế bên là bàn thờ Hội Đồng Thượng Phật. Dưới chót là một bàn Kinh (không được gắn vào tường), hai bên có chuông và mõ, giữa trung tâm là bộ Kinh cúng dường gồm 13 quyển. Trên vách bên phải là một bàn thờ nhỏ dành cho Tam Giáo. Bên trái là một bàn nhỏ riêng để thờ Cửu Phẩm Liên Hoa. Dưới bàn nhị đẳng có một bàn nhỏ để thờ Thập Phương.

Trong phần bên phải của đền thờ Nội ngoại, có phần thuộc vợ. Ở phía ngoài cửa chính, giữa thờ Tiền hiền, hai bên là thờ Tả và Hữu mạng Thần. Trước sân có bàn Thông Thiên được chia thành hai tầng. Tầng trên thờ Chánh Đức Thiên La Thần và tầng dưới thờ Thổ Trạch Long Thần.

Trên bàn Tiền hiền thường có một khay lễ, trong đó có vị trí để đặt đèn và hoa cùng với ba chén nước và một đĩa trầu cau. Nếu thờ theo Nghi thức của Đạo, thì nhà của người tín đồ cũng như một ngôi chùa, mỗi khi thắp nhang phải sử dụng ít nhất 10 cây.

C)- TRANG PHỤC:.

Những người theo Đạo Qui y nhập phải không được thích phát (cạo đầu) nhưng lại cần phải để tóc dài, bài trí lên, và mỗi người ít nhất phải có chiếc áo dài làm từ vải màu đen (nên tránh sử dụng hàng lụa) để thực hiện nghi thức tôn kính ở chùa hoặc tham gia lễ cúng tại nhà thân bằng. Khi đến chùa, họ phải đi bộ trên đất và không được mang giày dép vào bên trong.

D)- HÀNH ĐẠO:.

Đại đa số cho rằng: Những người tu hành là những người đặc biệt hơn các nhóm xã hội, là những người tốt bụng và đức hạnh, hoặc người tu hành là thuật ngữ tổng quát để chỉ những người tuân theo luật pháp của một tôn giáo cụ thể.

Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa chữ, Tu là việc rèn luyện bản thân cho cá nhân hoặc theo một tôn giáo mà ta tôn kính. Hành là việc thực thi, tuân thủ Nhơn đạo hoặc theo những quy tắc cơ bản của một tôn giáo ta tôn thờ. Vì vậy, những người tu theo giáo thuyết Tứ Ân Hiếu Nghĩa phải tuân theo hành đạo.

Khi học Đạo Bái Sám, việc đầu tiên cần là thuộc mặt chữ (chữ Hán) trong quyển Linh Sơn Hội Thượng Kinh, vì đây là nghi thức cúng dường sơ đẳng của Đạo. Công phu bắt đầu từ sáng sớm và bao gồm các nghi thức cúng dường hay nhựt tụng, thường được trích trong quyển Kinh này.

Niệm Phật (hay lần tràng hạt): Tất cả người đạo đức đều sở hữu một chuỗi hạt Bồ Đề hoặc hạt Kim Cang (gồm 108 hạt) được gọi là niệm Pháp trường. Khi lần từng hạt, họ tập trung tâm niệm tên Phật một lần.

Hoàn thành một chuỗi niệm đủ 108 lần tên Phật. Niệm bảy chuỗi (mỗi chuỗi có một tên Phật khác nhau) để hoàn thành một “Thất” Pháp. Trong mỗi lễ cúng, người tu sĩ ít nhất phải niệm ba “Thất Pháp”. Mỗi “Thất Pháp” còn phải niệm theo ba quyển Kinh, phù hợp với nghi lễ. Nam tín niệm tên kinh khác nhau.

Sử Thập Điều (tuân Mười điều):.

1/- Tuân luật Thượng Sư (tuân theo luật Thầy dạy).

2/- Báo đáp Tiên linh (báo đáp công ơn ông bà đã khuất).

3/- Lễ Phụ Tử Cang (Lễ phép đạo nghĩa Cha con).

4/- Lễ Quân Thần Cang (Lễ phép đạo nghĩa Chúa Tôi).

5/- Lễ Thập phương Phật (Lễ bái Chư Phật mười phương).

6/- Lễ Báo ân Tam Bảo (Lễ trả ơn Phật, Pháp, Tăng).

7/- Nghĩa đáp Ân Sư (trả nghĩa ơn Thầy).

8/- Tín nghĩa Thân Bằng (giữ tín nghĩa với bà con làng xóm).

9/- Tác Phu Thê Cang (giữ tình nghĩa vợ chồng).

10/- Tạ Ân Hậu thổ (Trả ơn tấc đất ngọn rau).

Đ)- CÚNG DƯỜNG:.

Bên cạnh các kỹ năng xử lý tình huống, người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng thường xuyên thực hiện các nghi thức tôn giáo để tri ân các vị tiền bối đã giúp đỡ.

– Sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn.

Hằng năm, người theo đạo phải cúng dường nhiều lễ để cầu nguyện cho các vị tiền nhân được hưởng phúc từ đời sau.

Do đó, mỗi năm người tín đồ chẳng luận sang hèn, nghèo giàu, đều phải có những lễ cúng dường:.

Lễ cúng Đoan Ngũ: Sau khi cúng mùng 5 tháng 5 hoàn tất, mỗi hộ gia đình cần chọn một ngày để tổ chức lễ cúng Đoan Ngũ, thường là vào ngày cúng giỗ cho tổ tiên.

Đầu tiên, chủ nhà cần mua khay lễ để đến cúng tại chùa Tam Bửu, sau đó đến nhà ông Trò của nhóm mình đã quy y để cúng.

Cuối cùng, tôi đến gặp ông Cư Sĩ (người thường truyền đạt thông điệp cho gia đình) và nhờ ông ta truyền đạt thông điệp trong nghi thức cúng.

Khi đến ngày cúng, ngoài việc mời thân bằng đến tụng niệm Cầu siêu, gia chủ cần phải thực hiện lễ thỉnh điệp tại những địa điểm đã đến thăm trước đó.

Trong thư ghi đầy đủ danh sách các vòng nhơn ở Nội, Ngoại, Chồng và Vợ. Phần quà cúng bao gồm Hương, Hoa, Trà, Quả và sáu tờ tiền cùng với vàng bạc và giấy Ngũ sắc, giấy trắng được xếp thành từng phần, mỗi vòng nhơn một phần.

Về đồ ăn có thể tùy chọn, không bắt buộc. Nhưng nhất định phải có hai món: Bánh Đúc và Xôi Xéo. Sau khi cúng xong, người tu sĩ cần lập một cuốn sách cho gia đình mình, sách và điệp giống nhau, rồi đốt đi, để lưu lại cho gia đình người cúng giữ.

Bộ sách Kinh cúng dường bao gồm 11 quyển, trong đó có 3 quyển Hiếu Nghĩa Kinh (Thượng, Trung, Hạ), các cư sĩ chỉ đọc quyển Thượng trong Lễ Đoan Ngũ.

Lễ cúng Chánh Đán không khác gì Lễ cúng Đoan Ngũ về nội dung và hình thức, chỉ khác ở việc người Cư sĩ tụng kinh Hiếu Nghĩa quyển Trung và mùa cúng từ tháng Giêng đến cuối tháng Ba.

Lễ cúng Đối Kỵ: Đối Kỵ là ngày giỗ cho Ông Bà hay Cha Mẹ.

Lễ này có hình thức tương tự những Lễ cúng đã nói trên, nhưng phạm vi cúng kiếng hẹp hơn. Vì những Lễ cúng trước đó có nhiều linh hồn, nên việc cúng kiếng được coi là “Đám Giỗ Hội” và yêu cầu phải mời nhiều người để thực hiện nhiều nghi thức.

Vì Lễ Đối Kỵ chỉ có một Vong linh, nên cần hạn chế mời người thân đến cùng với việc cúng dường phẩm vật. Ngoài ra, người Cư sĩ cần đọc kinh Hiếu Nghĩa Hạ và không quên thưởng thức món “Bánh Đúc Xôi Xeo”.

Bên cạnh các Lễ cúng chính đã được đề cập, còn có rất nhiều Lễ cúng khác như Lễ cúng Thượng, Trung, Hạ nguồn, ngày rằm, ngày vía, bốn mùa tám tiết, Quan, Hôn, Tang, Tế và nhiều hơn nữa.

II- TỨ ÂN HIẾU NGHĨA và HỌC PHẬT TU NHƠN.

Tứ Ân là tình cảm đầy ý nghĩa gồm Ơn Tổ Tiên Cha Mẹ, Ơn đất nước (hay Quốc vương Thủy thổ), Ơn Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và Ơn Đồng bào, Nhơn loại.

Tinh thần Hiếu Nghĩa bao gồm lòng biết ơn và tôn trọng Tổ Tiên, cha mẹ cùng như sự quan tâm đến cộng đồng xã hội. Theo câu tục ngữ “Muôn ngàn kinh điển nghĩa thảo làm đầu”, Hiếu Nghĩa là giá trị quan trọng trong đời sống. Dưới đây là một trích đoạn từ kinh Siêu Thăng:

Ngã kim qui chánh giác, siêu ly địa ngục môn.

Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ.

Nhược nhơn kiến văn giả, tất phát Bồ Đề tâm.

Đoạn kinh trên có nghĩa là: Người xử tròn Tứ Ân Hiếu.

Nghĩa có nghĩa là đã đưa linh hồn của người đã khuất trở lại chốn thanh tịnh, không bị rơi vào địa ngục. Bởi vì họ đã báo đáp bốn ơn sâu nặng và cứu giúp ba con đường khổ (Tam đồ khổ: 1. Đọa ngạ quỉ. 2. Súc sanh. 3. A tu la.).

Ai nghe được kinh nầy thảy đều phát sanh tâm Bồ Đề.

Bên cạnh việc truyền bá đạo lý bằng hình thức, Đức Bổn Sư còn tập trung vào Tâm truyền. Ngài giáo dục cho tín đồ bằng phương pháp “Học Phật Tu Nhơn”. Huấn luyện cho người tu tâm và rèn luyện tinh thần tại nhà.

1.- TU NHƠN:.

Những người theo đạo Hiếu Nghĩa đều muốn học Phật nhưng trước đó phải tu tập. Có câu “Không tu tập không thể theo đạo”.

Thuật ngữ “Tiên đạo viễn hỷ” có ý nghĩa là: Để tu theo đạo Tiên, trước hết phải rèn luyện bản thân theo đạo làm người. Nếu không thể hoàn thành đạo này, thì khó có thể tu đạo Tiên được.

Vì vậy, những người tuân thủ Tứ Ân Hiếu Nghĩa phải chú ý đối xử đúng mực theo 4 điều đã nêu hàng ngày. Trong phương diện Hiếu Nghĩa, không chỉ cần đền ơn báo nghĩa với những người còn sống mà còn phải tri ân đáp đền công ơn của những người đã qua đời. Dưới đây là một đoạn trích từ Hiếu Nghĩa Kinh (quyển Hạ).

Thượng thị phụ khi sanh, hạ thử mẫu huyết dưỡng,.

Thiên địa âm dương hội phụ mẫu khí huyết hòa.

Thị cố sanh ngã đẳng, âm dương đồng thọ hưởng,.

Thiên địa nhơn đồng đạo, phụ mẫu nghĩa tối cao.

Ý nghĩa của đoạn trên là: Thân thể của chúng ta được hình thành từ sự kết hợp của âm dương của cha mẹ. Vì vậy, chúng ta phải trân trọng công ơn của cha mẹ và báo đáp nó. Chỉ khi làm đúng như vậy, chúng ta mới được coi là người đạo đức. Sau đó, chúng ta mới có thể bàn về việc học Phật.

2.- HỌC PHẬT:.

Khi học Phật, những người theo đạo T.Â.H.N. Không phải đối mặt với việc phải “Ly gia cát ái”, tức là rời bỏ gia đình và xa cách người thân để sống trong chùa, xa khỏi cuộc sống xã hội. Thay vào đó, họ có thể ở lại với gia đình và hòa hợp với cách sống bên ngoài xã hội, với tư cách như những người “Cư sĩ tại gia”.

Đầu tiên, người tu tại nhà cần chân thành tâm niệm đến Lục tự Di Đà. Ngoài giờ làm việc, họ thường sử dụng xâu Pháp tay (xâu chuỗi 108 hạt) để tịnh tâm và tưởng niệm tên Phật. Dưới đây là một đoạn trích từ kinh Bàn Đào:

Bồ Đề diệu pháp ly chũng chũng,.

Thủ khai ngân tỏa diệu trùng trùn.G.

Chuyển chuyển luân luân La Hán tướng,.

Thiên tăng giáng phước tuyệt vô cùng.

Lược dịch :.

Phép niệm Bồ Đề lìa các khổ,.

Tay lần tràng hạt dứt dây oan.

Xoay trở về ngôi La Hán tướng,.

Ơn trên ban(?) Phước diệt lòng trần.

Theo truyền thuyết, mỗi khi trong Đạo xảy ra việc quan trọng hoặc Đức Bổn Sư chuẩn bị truyền thọ một Bí pháp, sau khi Ngài đi vào giấc ngủ sâu (vì vậy mà người ta gọi Ngài là Ông năm Thiếp), Ngài mới truyền thọ cho đệ tử. Vì vậy, trong kinh Hiếu Nghĩa có đoạn kệ như sau:…

Hướng thượng Đinh Mão tuế, ngũ ngoạt nhựt ngọ diên,.

Chuyển ngã thân khử tục, thất nhựt dạ đê mê.

Tịch nhiên hồi hoàn tỉnh, giải thoát tẫy trần tâm,.

Giáo nhơn tùng thiện đạo, khẩu thuyết phổ lưu truyền.

Lược dịch:.

Trở lại năm Đinh Mão, đúng ngày ngọ tháng năm,.

Ta trở mình lìa tục, hôn mê bảy ngày đêm.

Bỗng nhiên hồi tỉnh dậy, giải thoát sạch lòng trần,.

Dạy người theo đạo thiện, giáo truyền khắp muôn dân.

Giáo sư Tu Nhơn giảng dạy cho những người tín đồ cách chuẩn bị cho việc học Phật rất khéo léo, và kết hợp niệm Phật với các hoạt động tôn giáo như lễ cúng dường. Phương pháp truyền giáo của ông phụ thuộc vào trình độ của từng nhóm người để giúp họ tiến bộ trên con đường đạo Phật. Những người cao cấp hơn như Cao đồ và Cư sĩ có kiến thức sâu rộng về đạo pháp, họ nghiên cứu các kinh sách cao cấp như Kinh Thiên Đồ, Âm Chất, Siêu Thăng, Phổ Độ Bàn Đào và nhiều hơn nữa. Trong khi đó, đa số những tín đồ khác có kinh nghiệm nhưng thiếu kiến thức, họ tập trung niệm kinh Linh Sơn Hội Thượng để tu hành và đạt được quả đạo.

Một trong số các sách Kinh chúc cúng thường có phiên bản Huờn Sanh Kinh viết bằng chữ Nôm, nói cách khác, phiên bản này được viết bằng tiếng Việt (truyền rằng Kinh này đã được sáng lập từ thời Đức Bổn Sư). Dưới đây là một đoạn trích từ Huờn Sanh Kinh:

Huờn sanh trần thế, Lập kế thánh vương,.

Thân thể nhiễu nhương, người đương thay đổi.

Phép Trời làm nổi, thân thể nghiêm trang,.

Hỡi kíp lo toan, thay đời lập trị.

Phật Trời hiệp nghị, mới có Hội nầy….

Tóm lại, dù tín đồ có trình độ cao hay thấp, Ngài luôn coi tất cả đều bình đẳng và đánh giá giá trị của mỗi người dựa trên việc rèn luyện tâm hồn và thực hành Tôn chỉ Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Dưới đây là đoạn Kệ Ngài chứng minh pháp niệm Bồ Đề cho một tín đồ:

Nguyên văn bài Kệ:.

Thất minh thất ám lưõng hề nghi,.

Phương thốn thường tồn bất khả thi.

Mạc vị thiên cao thánh thần viễn,.

Yếu tu tiên quí tự gia tri.

Bồ đề niệm niệm vĩnh vô khổ!

Đắc pháp thành thân phước phóng thì.

Giải thoát mê trần cam lồ sái,.

Ma ha bát nhã mật tâm trì.

(Tám câu Kệ nầy sau được tín đồ đạo Hiếu Nghĩa tạc vào cột gạch trước chùa Tam Bửu Tự).

Lược dịch:.

Gắng công trì niệm Bồ Đề,.

Hầu gieo quả phúc, tìm về Tây phương.

Nhành dương liễu, rưới tình thương,.

Gội ơn giải thoát mọi đường khổ đau.

Phép niệm Bồ Đề là phương pháp chung dành cho các tín đồ và là một trong những điều cơ bản để tu học cho người Cư sĩ tại gia. Trong bài giảng Ngũ Giáo, Ngài thành thật khuyến khích như sau:.

Khá khuyên lớn bé trẻ già,.

Ân cần kinh chuỗi Di Đà hôm mai.

Gắng công niệm Phật đừng sai,.

Cầu cho phụ mẫu Như Lai dựa kề….

Phương pháp truyền đạo của Đức Bổn Sư rất đơn giản, không khác gì so với các vị Tổ của Thiền tông. Ngài truyền tâm cho tín đồ bằng cách “Dĩ tâm truyền tâm” và trì niệm Lục tự Di Đà làm căn bản. Trong khi giảng dạy, Ngài sử dụng lối thuyết giảng như Đức Thích Ca Mâu Ni, không bao giờ chép ra thành kinh điển. Tuy nhiên, một số tín đồ của Ngài, có kiến thức về Phật pháp và Văn học, đã ghi lại những giáo thuyết của Ngài và viết thành sấm kệ mô phỏng theo đường lối giáo hóa của Ngài, tạo thành những kinh điển.

Sau khi hoàn thành quyển kinh hoặc bài giảng mới, Ngài sẽ xem lại. Ngoài các quý vị cao cấp, còn có những vị đệ tử của Ngài, không biết từ đâu đến để giúp Ngài về phần kinh điển rất nhiều.

Theo truyền thuyết, có một vị tu đạo thường xuyên đến thăm Ngài, được biết đến với biệt danh Tam Giáo Hỏa Lầu, tên thật là Nguyễn Hội Chơn. Tuy ông ta có tính cách cương trực và nóng nảy, nhưng về Phật học thì ông ta rất sâu sắc, còn về Văn học thì rất thông thạo và uyên bác. Vì thế, hầu hết các kinh của Hệ phái T. Â. H. N, Đức Bổn Sư đều được ông ta sáng tác và trình bày cho Ngài xem và chỉnh sửa.

3.- DO ĐÂU CÓ DANH XƯNG ”TỨ ÂN HIẾU NGHĨA”?

Theo giáo thuyết căn bản của Ngài có những câu:.

…Bây giờ hết nổi nói năng,.

Ở sao cho đặng lòng bằng như xưa.

Xưng Thầy, xưng Đạo thì chừa,.

Hôm mai gìn giữ muối dưa cho thường….

Khi còn sống, Đức Bổn Sư thường khuyên tín đồ nên giữ tính khiêm tốn. Không nên tự phụ trong việc tu thân, phải thận trọng khi xử thế và sử dụng ngôn ngữ tốt khi giao tiếp, khuyến khích hành động tốt. Mặc dù được người đời tôn kính và coi là vị Hoạt Phật đương thời, nhưng Ngài rất khiêm nhượng và không xưng Thầy xưng Đạo với bất kỳ ai, vì vậy tín đồ đều được khuyến khích giữ ý thức đó.

Với những người tín đồ, Ngài luôn trang trọng và kính trọng. Ngài gọi những người lớn tuổi là hàng chú bác, còn những người trẻ Ngài gọi là anh chị. Tín đồ của Ngài được gọi là bá gia. Ngài không tỏ ra là một “Bậc Sư” hay “Giáo Chủ” và nhiều người đến quy y với Ngài để tìm hiểu danh xưng của đạo mình. Ngài chỉ đơn giản trả lời rằng đó là “Đạo thờ Ông Bà”.

Khi nhắc đến tôn giáo của Ngài, người dân thường gọi là Đạo thờ Ông bà. Tuy nhiên, vì lý do gì mà lại được gọi là đạo TỨ ÂN HIẾU NGHĨA?

Mặc dù được gọi là Đạo Thờ Ông Bà, nhưng chính tâm điểm của tôn giáo này vẫn là việc học Phật pháp và đền đáp tức ái hiếu nghĩa. Dưới đây là một đoạn trích từ bài giảng Ngũ Giáo:

Ông bà khỏi chốn lao tù,.

Cũng nhờ con cháu gắng tu Bồ Đề.

Tứ ân cúng kiếng bốn bề,.

Sớ tiêu có chữ đệ về phân minh.

Tình trạng này kéo dài cho đến sau khi Đức Bổn Sư viên tịch. Chính quyền Pháp đến điều tra và thẩm vấn, yêu cầu những người tu theo Đạo thờ Ông bà phải chính thức tiết lộ thông tin cá nhân, bao gồm mục đích của Đạo và danh xưng chính thức của Đạo để có thể tạo hồ sơ theo dõi và báo cáo hoạt động của những người tu theo Đạo. Vì vậy, những người truyền nhân phải khai báo danh xưng là TỨ ÂN HIẾU NGHĨA. Và những người tu tại gia sẽ tuân thủ phương châm HỌC PHẬT TU NHƠN trong hành trình đạo đức của mình.

III.- SỰ LIÊN HỆ CÁC HỆ PHÁI PHẬT GIÁO BỬU SƠN KỲ HƯƠNG.

Những người tu theo Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương hoặc tôn kính 4 chữ BSKH đều đánh giá rằng: Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa và hệ phái Đức Phật Trùm tại núi Tà Lôn (Tri Tôn) có nguồn gốc từ Phật Giáo BSKH của Đức Phật Thầy Tây An.

Các tu sĩ đã giải thích rằng: BSKH có mối liên hệ tương tự như các phái Thiền Tông của Trung Quốc (như Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn…) Cũng xuất phát từ giáo hệ Thiền Tông của Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma và được truyền bá qua hàng thế kỷ. Tuy nhiên, sự truyền bá của hai giáo hệ (Thiền Tông của Trung Quốc và BSKH của Việt Nam) có một số khác biệt. Thiền Tông của Trung Quốc đã trải qua nhiều biến đổi hình thức, nhưng sự truyền bá truyền thống vẫn được giữ nguyên. Mặc dù nội bộ có phân chia thành các phái Nam Bắc, tuy nhiên, các tín đồ của Thiền Tông vẫn tôn thờ Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Và “sự kế tục” của Thiền Tông vẫn được truyền bá liên tục.

Về Phật giáo BSKH, chưa ai hiểu rõ được mối liên hệ thực tế giữa Đức Bổn Sư và Đức Phật Thầy như thế nào? Hai vị Hoạt Phật này có phải là một? Hay Đức Bổn Sư được truyền thọ Bí pháp? Hoặc Đức Bổn Sư là hóa thân của Phật Thầy? Tại sao đại đa số tu sĩ cho rằng cùng nguồn gốc? Chúng tôi xin trình bày một số điểm khác biệt và những điểm tương đồng:

1.- NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT:.

Có những khác biệt (nếu không muốn nói là đối nghịch) về việc truyền bá giáo lý, nghi thức tu hành giữa Đức Phật Thầy và Đức Bổn Sư, ví dụ:.

– Đức Phật Thầy không chuộng Thinh, Âm, Sắc, Tướng.

Đức Bổn Sư giảng dạy kinh sách, tiếng chuông mõ và cúng thờ hình tượng (tượng Phật Quan Âm) được thực hiện bằng sớ, điệp, thiêu giấy tiền vàng bạc. Người phật tử còn thực hiện niệm pháp, lần chuỗi và phân biệt Cư sĩ, Ông Gánh, Ông Trò.V.V…

– Đức Phật Thầy chỉ trì niệm Di Đà, giản dị kinh chú, giản dị Nghi thức hành lễ v.V….

Đức Bổn Sư tiếp tục giảng dạy nhiều bài Kinh chú, học chữ Hán, thực hiện các nghi lễ tôn giáo và người đạo đức để nuôi dưỡng mái tóc dài, và nhiều điều khác nữa.

Những sự khác biệt đó đủ để gây tò mò và nghi ngờ về mối liên hệ giữa BSKH và TÂHN. Tuy nhiên, có nhiều điểm mà đa số người theo đạo đồng ý là giống nhau, cho nên họ tin tưởng rằng hai phái này có cùng nguồn gốc.

2.- NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ TRÙNG HỢP:.

Mặc dù có những khác biệt rõ ràng về nghi thức tu hành, trọng tâm của TÂHN không chỉ đúng với thuyết gốc của Phật giáo BSKH mà còn đóng góp nhiều điểm bổ sung để làm cho Phật giáo BSKH thêm phong phú.

Phái Phát tiếp nhận tín đồ vào đạo bằng ấn son có 4 chữ BỬU SƠN KỲ HƯƠNG in trên giấy vàng.

– Căn bản truyền đạo vẫn là HỌC PHẬT TU NHƠN và báo đáp TỨ ĐẠI TRỌNG ÂN.

– Chánh điện ngôi thờ chánh (Phi Lai Tự) vẫn thờ Trần điều.

Sử dụng thơ bài và ngôn từ giản dị, phổ thông nhất là phong cách văn chương thượng lục hạ bát rất phù hợp với bản sắc dân tộc, tất cả đều có thể hiểu được.

Đưa những người chưa theo đạo vào đạo bằng cách giúp đỡ cộng đồng: Giải quyết bệnh tật và cứu giúp người khác rất kỳ diệu, đồng thời chỉ ra những lỗi sai của người đó.

Thuyết phục những người cứng đầu, không chịu đúng lẽ phải, bằng cách dự đoán những sự việc đã xảy ra và hậu quả mà họ đã gây ra, khiến họ phải tuân thủ, tập trung vào hành động thiện.

– Không hề vướng bận lợi danh, hoặc thu nhận sự đền ơn trả nghĩa bằng tiền bạc.

Đức Phật Thầy được sinh ra vào giờ Ngọ ngày rằm tháng 10 năm Đinh Mão (1807), Đức Bổn Sư mê mải 7 ngày đêm (đi thiền) cũng vào giờ Ngọ ngày rằm năm Đinh Mão (1867) và khi Ngài tỉnh dậy, Ngài đã giác ngộ và quy y dạy đạo cho tín đồ. Sự khác biệt giữa hai sự kiện này là một chu kỳ 60 năm.

Dựa vào những điểm giống nhau và trùng khớp, ta có thể tin rằng: Hai vị thầy Phật có sự kết nối với nhau rất nhiều.

Tuy nhiên, tại sao phong tục tập quán trong hành đạo lại có nhiều khác biệt? Các vị lãnh đạo trong tôn giáo này đã trình bày một số bằng chứng để giúp chúng ta hiểu rõ nguyên nhân.

3. -DO ĐÂU CÓ NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU?

Dựa trên tài liệu Phật sử, mỗi khi thay đổi danh xưng hoặc vị Chưởng giáo thì con đường tu học, giảng dạy cũng sẽ có ít nhiều sửa đổi. Ví dụ: Thiền phái Thảo Đường của đời Lý, có một số khác biệt so với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của đời Trần. Thiền phái đời Lê cũng khác với Thiền phái đời Nguyễn v.V… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi, bao gồm hoàn cảnh xã hội và phong tục. Có những thay đổi được thực hiện để phù hợp với dân sinh hoặc để cải cách. Tuy nhiên, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng không thể tránh khỏi những quy định đó.

Dù trong thời kỳ đen tối nhất của lịch sử Việt Nam, từ khi còn trong bụng đến khi trưởng thành, Đức Bổn Sư vẫn truyền bá giáo lý Tứ Ân Hiếu Nghĩa mà phải chịu đựng những cay đắng dưới chân của thực dân Pháp (1867-1890). Việc tụng niệm mõ chuông và cúng dường sớ điệp nên được thực hiện.

Theo chỉ dẫn của Nguyễn triều, ví dụ như Đức Phật Thầy Tây An, Ngài đơn giản hóa Phật giáo BSKH bằng cách không trình bày kinh sách phức tạp, chỉ tập trung vào niệm Phật để giúp cho tín đồ nông thôn kém học dễ hiểu hơn. Ngài không quan tâm đến Thinh, Âm, Sắc, Tướng nhưng khi Ngài đến chùa Tây An (núi Sam) và triều đình yêu cầu phải thờ hình cốt và trình bày kinh sách phức tạp theo phương pháp Thiền Tông Lâm Tế, Ngài vẫn tuân theo. Đức Bổn Sư vẫn giữ nguyên vị trí của mình, để thể hiện lòng kính trọng với Quốc Vương thủy thổ, và tạo ra một hình thức tu học tương tự với phái Thiền. Do bị tố cáo là “Gian đạo sĩ”, Ngài bị theo dõi và bắt bởi bọn tội phạm.

Dù Ngài ủng hộ việc tụng niệm chuông mõ rình rang, nhưng nội dung Kinh điển luôn đúng với thuyết Học Phật Tu Nhơn, đồng thời không phụ thuộc quá nhiều vào kinh điển của nhà Thiền. Bên cạnh đó, Ngài cũng khẳng định rằng Thinh, Âm, Sắc, Tướng trong hành đạo có thể được sử dụng đồng thời với việc bày bác gắt gao về chúng. Ví dụ, một đoạn Kệ trong kinh Siêu Thăng như sau:

Xuất thế vi nhơn tu huớng thiện,.

Phỏng cầu Đại đạo tảo tham thiền.

Thinh Âm Sắc Tướng giai phi đạo,.

Thiết vật tin tà tập ngoại biên.

Lược dịch:.

Xuất thế tu thân chọn hướng lành,.

Tham thiền theo Đạo chẳng cầu danh.

Thinh Âm Sắc Tướng đều tà thuyết,.

Hình thức bên ngoài dối chúng sanh.

Bài Kệ trên cung cấp đầy đủ thông tin để giải quyết sự xung đột từ nội dung đến hình thức. Sự xung đột đó, chắc chắn không thể tránh khỏi trong bối cảnh xã hội đầy thử thách, đặc biệt trong thời kỳ Ngài truyền đạo.

Vấn đề đang được quan tâm là tượng đài Quan Thánh Đế Quân, có thể sử dụng hình ảnh này để giảm bớt sự cách mạng trong tôn giáo và tránh sự nghi ngờ của kẻ thù, đồng thời thể hiện lòng trung cang bất khuất của Ngài. Ngài luôn kiềm chế kẻ thù nhưng không bao giờ đầu hàng. Theo Đào Viên Minh Thánh kinh, có những đoạn diễn tả nỗi lòng trung cang của Quan Thánh như sau:

Tinh trung xung nhựt nguyệt,.

Nghĩa khí quân càn khôn.

Diện xích tâm vưu xích,.

Tu trường nghĩa cách trường.

Lược dịch:.

Lòng trung che lấp ánh Trời,.

Khí hùng xông suốt trận đời nể oai.

Râu dài nghĩa khí cũng dài,.

Mặt đỏ, lòng đỏ mới trai anh hùng.

Kinh Đào Viên còn có đoạn diễn tả nỗi lòng trung cang bất khuất của Quan Thánh Đế Quân:.

Hàng Hớn bất hàng Tào,.

Trung thần bất sự nhị.

Phong Hớn Thọ Đình Hầu,.

Ấn vô Hớn trùng chú.

Phong khố ấn quyền lương,.

Tước lộc từ bất thọ.

Lược dịch:.

Thờ Hớn ta chẳng thờ Tào,.

Tôi trung một chúa lẽ nào thờ hai.

Tước phong Hớn Thọ Đình Hầu,.

Không khắc chữ ”Hớn” ta đâu có màng.

Treo ấn từ giã giàu sang,.

Hư danh trả lại, lên đàng tìm anh.

Có thể Đức Bổn sư sử dụng lòng can đảm của Quan Đế để thể hiện tình yêu quê hương của mình và cũng như khuyên bảo người đạo đức suy nghĩ về những điều yêu nước. Ngoài ra, việc tu học và giáo dục cho mọi người cần phải được chỉ dẫn phù hợp với từng tầng lớp.

Đức Thích Ca Mâu Ni trước đây khi giảng pháp những bản giáo lý Thượng thừa như Kim Cang, Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Lăng Dà Pháp Hoa…Là để cho các đệ tử cao cấp của Ngài tìm hiểu và học hỏi. Khi thì Ngài chỉ thuyết giáo lý thông thường như Bác Dương Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan để cho đa số tín đồ dễ dàng học và hiểu.

Do đó, việc Đức Bổn Sư viết nhiều kinh điển và giáo hóa cho nhiều đối tượng tín đồ cũng không khác gì ý nghĩa đã được đề cập. Hơn nữa, quyền lực cũng phụ thuộc vào thời điểm và hoàn cảnh. Ngài đã giảng dạy rằng:

Học thời phải xét cho minh,.

Phật, Nho cũng cứ thơ kinh mà quyền.

Thời gian Đức Bổn Sư truyền đạo đồng thời diễn ra cuộc kháng chiến Cần Vương chống lại Pháp. Tại chiến khu Bảy Thưa, đội quân của anh hùng Trần văn Thành (Đức Cố Quản) đã tan rã, và các liệt sĩ đã thay đổi hình thức trở thành nông dân hoặc lẩn trốn vào thâm sơn cùng cốc. Do đó, Hệ phái Tứ cũng bị ảnh hưởng.

Ân Hiếu Nghĩa thu hút nhiều tín đồ mới gia nhập và đông đảo, họ quyết tâm ẩn nấp dưới bóng cây để chờ thời cơ để khởi nghĩa chống lại thực dân Pháp.

Một minh chứng khác, dù ai có tính cách khó tính đến đâu cũng không thể bỏ qua vấn đề về Tu Quốc Vương thủy thổ của Đức Bổn Sư. Trong các tài liệu kinh sách của người theo đạo Nhựt Tụng, thường bắt đầu bằng câu “Hoàng Đồ củng cố đế đạo hà xương, Phật nhựt tăng huy, Pháp luân thường chuyển”.

Có nghĩa là: Mong cho môi trường lâu dài bền vững, đất nước được thịnh vượng, tôn giáo và triết lý Phật giáo được lan truyền, mang lại cuộc sống tươi đẹp và hạnh phúc cho tất cả mọi người. Trong thời đại này, trật tự xã hội rối loạn, làng Tổng đang gây ra nhiều bất công và bạo lực đối với dân chúng, điều này khiến cho Ngài cảm thấy buồn chán và phải đưa ra quyết định.

Làm Tổng chẳng kể trẻ già,.

Người nào nhiều bạc vậy mà hỏi han.

Cò…(?) Mấy chú làm Làng,.

Dân là báu nước, chẳng màng tới dân.

IV.- HỆ PHÁI TỨ ÂN HIẾU NGHĨA VỚI NHỮNG LẦN PHÁP NẠN.

Đức Bổn Sư dẫn dắt tín đồ đến núi Tượng và thành lập chùa miếu, phá rừng, khai hoang, lập thôn ấp vào năm Bính Tý (1876). Sau 4 năm, vào dịp lễ Trung Nguyên (rằm tháng 7) năm Tân Tỵ (1881), Ngài tổ chức một cuộc Đại lễ mang tên “Đại Trai Đàn” để cầu siêu cho những vong linh của Vị quốc Vong thân và các oan hồn tránh khỏi đường Súc sanh, Ngạ quỷ… Cuộc lễ Đại Trai Đàn kéo dài trong 3 ngày và thu hút hàng vạn tín đồ từ khắp nơi.

1) – PHÁP NẠN LẦN THỨ NHỨT:.

Vì số lượng quá đông, chính quyền Pháp đã nghi ngờ và để cho các đặc vụ theo dõi từ đầu. Trong số các tay sai này có một người tên là Ý, đang giữ chức vụ Vệ trong đội binh của Pháp. Vệ Ý đã phát hiện rằng Đại Trai Đàn được thiết lập và thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân, họ đặt niềm tin vào Đức Bổn Sư. Vì vậy, Ý đã nhanh chóng báo cáo với chính quyền Pháp.

Khi đó, quân Pháp chỉ đóng quân tại Châu thành An Giang (Châu Đốc) rất ít, vì vậy Vệ Ý đã phải đi tàu thẳng về Tân An. Tân An là nơi Tổng hành dinh của Pháp chỉ huy 6 tỉnh miền Nam nước Việt lúc bấy giờ. Vệ Ý đã tố cáo Đức Bổn Sư là Gian Đạo sĩ dạy cho dân chúng luyện phép phù để chống lại quân Pháp! Trong bài giảng của ông, có đoạn nói về hành động của Vệ Ý như sau:

Bẩm cùng quan lớn nhiều lời,.

Tượng sơn dữ thiệt chẳng chơi đâu là.

Quả là tu luyện phép tà,.

Xin quan tới đó coi mà sẽ hay….

Sau khi nghe báo cáo, quan Pháp (tên không rõ) tức thì tập trung binh lính và di chuyển đến Châu Đốc. Tại đó, ông ấy thúc đẩy người đại diện ở Châu Đốc để tiến hành điều tra và cấp thêm binh thuyền. Khi đến Tịnh Biên, họ đã bao vây núi Tượng vào giữa thời gian canh ba. Đại Trai đàn cũng sắp kết thúc. Các tín đồ, người đạo Pháp đều rất lo lắng khi nghe tin bọn họ bao vây.

Lúc đó, Đức Bổn Sư đang đứng trên nóc đàn cao, có rất nhiều đệ tử bên cạnh. Trong số đó có một người phụ nữ trẻ tuổi, được biết đến với cái tên chị Bóng Thị. Người này rất giỏi võ và sức mạnh phi thường. Trong lúc khẩn cấp, bà nhảy lên nóc đàn rồi cắp ngang nách Đức Bổn Sư để lẩn trốn.

Tất cả tín đồ chạy trốn và không quan tâm đến nhà cửa hay đền chùa. Trong số đó, Vệ Ý được biết đến như là người chỉ đường.

Tín đồ xem thấy hãi hùng,.

Nào hay kẻ ấy đem lòng hại dân.

Mã tà, Mã kỵ rần rần,.

Phá làng phá xóm vang rền tứ vi.

Nhớ xưa lời Thánh còn ghi,.

”Thiệt xà thôn Tượng” đến ni mới tường.

Kẻ chạy người ở thêm thương,.

Cám nỗi đoạn trường chua xót đắng cay….

(Tới Miên trại tại Vườn Dầu trong kỳ này, có 1.800 phật tử nam, nữ trẻ già theo Đức Bổn Sư tịnh độ tại đây trong vòng 3 tháng).

— O O o —.

2)- PHÁP NẠN LẦN THỨ HAI:.

Sau khi trải qua thời kỳ khó khăn do chiến tranh, nhà cửa bị phá huỷ, chùa miếu bị thiêu rụi. Tuy nhiên, khi quân Pháp rút khỏi đất nước, người dân đã dành thời gian và công sức để xây dựng lại ngôi nhà và các đền chùa. Mặc dù việc này gây tốn kém nhưng lại mang lại nhiều niềm vui và sự hân hoan cho bản địa. Điều này cho thấy sự kiên trì và lòng yêu đạo của người dân, không bị khuất phục bởi bạo lực từ người ngoài.

Sau bốn năm, vào ngày 16 tháng 4 năm Ất Dậu (1885), quân đội Pháp tiếp tục tấn công núi Tượng một lần nữa.

Mục đích lần này là bắt được Đức Bổn Sư và giải tán đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Có tin đồn xấu, Đức Bổn Sư và đám đồng môn đã dẫn Đức Bà (mẹ của Đức Bổn Sư) chạy đến Vườn Dầu ở Cao Miên để tránh hiểm nguy.

Mặc dù thời gian Ngài ở Pháp nạn kéo dài, nhưng Ngài luôn dành sự tập trung để giáo hóa tín đồ tu hành theo tư tưởng Tứ Ân Hiếu Nghĩa và thành lập một khu chùa tại đây, thu hút đông đảo phật tử tới thăm viếng. Sau ba tháng, Ngài hướng dẫn tín đồ quay trở lại núi Tượng vào ngày 14 tháng 7 của năm đó.

Quay đầu nhìn lại quá khứ, một cảnh tượng tàn phá đáng sợ. Những ngôi nhà của tín đồ đã bị hủy hoại hoàn toàn. Tất cả những vật dụng và tài sản quan trọng của Đạo đều bị giặc chiếm. Mặc dù đối diện với cảnh tượng đau buồn đó, Ngài vẫn không bao giờ từ bỏ hy vọng. Ngài luôn khuyến khích tín đồ xây dựng lại những mái nhà tạm bợ từ lá và cành để thờ phượng và tạm ở nhà tu hành trên những nền đất cũ.

Sau khi Pháp tấn công núi Tượng, họ phá hoại nhà cửa của chùa và miễu. Tuy nhiên, khi chiêu an và hợp thức hóa thôn An Định, chỉ có thể tạm thờ phượng 3 ngôi chùa và đình An Định của chùa Tam Bửu được che bằng tranh lá.

3) – PHÁP NẠN LẦN THỨ BA:.

Vào năm Đinh Hợi (1887), nhiều người đến đây với lòng tin tưởng vào Ngài. Trong số các tín đồ này, có những người quyết tâm tu Học Phật tại Tu Nhơn, có những người được Ngài truyền Kinh chú và thuốc Nam để chữa bệnh cứu đời, cũng có những người tận dụng cơ hội này để kiếm tiền. Tám Qui là một trong số đó.

Tám Qui đã lợi dụng cơ hội cứu đời để vi phạm tôn giáo của Đức Bổn Sư. Khi đến Cái Dừng (thuộc xã Long Khánh, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc hiện nay), họ ghé vào nhà ông Ba Lê để nghỉ ngơi. Họ phát hiện rằng ông Ba Lê tin tưởng vào Đức Bổn Sư, và tên Qui đã lợi dụng điều đó để yêu cầu ông Ba Lê phải lên núi để đạt được giải thoát. Nếu không, họ sẽ phải đối mặt với tai họa khi Trời long Đất sụp đổ và đầy rẫy những cảnh báo khủng khiếp.

Bên cạnh ông Ba Lê, còn nhiều người tuân theo Tám Qui rời bỏ cuộc sống gia đình và leo núi để tránh khỏi rủi ro đời đáng tiếc không phải là ít.

Khi leo núi gặp phải khó khăn trong cuộc sống, quản lý của Pháp cảm thấy nghi ngờ và sợ hãi về các bệnh tật do sơn lam chướng khí gây ra. Dần dần, những người này bị suy nhược và vẫn chưa thấy được sự khởi sắc trong cuộc sống. Phần lớn trong số họ tuân theo Tám Qui để tránh các rủi ro trong tương lai, nhưng không phải tất cả đều thực sự tâm huyết với con đường đó. Vì vậy, có những người căm hận Tám Qui và kể lại câu chuyện để trút giận. Tuy nhiên, điều này đã được mật thám Pháp nghe được.

Nhóm này ngay lập tức thông báo cho viên Đốc phủ người Việt Trần Bá Lộc. Lộc yêu cầu bắt Tám Qui vì tội “Gian Đạo sĩ” và ra lệnh tra tấn. Tuy nhiên, Qui không chịu trách nhiệm và đổ tội cho ông Chánh Hưng của Đức Bổn Sư. Khi được giải thoát, Qui tiếp tục tố cáo Đức Bổn Sư và Trần Bá Lộc làm chủ núi Tượng để bắt Ngài!

(Theo Việt Sử tân biên, quyển 5, tập Thượng của Phạm văn Sơn), Trần bá Lộc được xếp vào hàng ngũ quan hạng nặng khi quân Pháp mới đến đây.

Trần Bá Lộc dẫn đầu một đội quân đông đảo tấn công núi Tượng vào giữa đêm, được hướng dẫn bởi Tám Qui. Ban đầu, chúng tập trung quanh nhà ông Chánh Hưng để bắt ông và trói lại. Sau đó, chúng tiếp tục tấn công nhà ông Trần Tịnh (cũng là cậu ruột của Đức Bổn sư) ở gần chùa Tam Bửu để kiểm tra.

Ông Trần Tịnh là một vị quan trọng của Đức Bổn Sư, được Ngài phái để khảo sát địa hình và địa vật tại núi Tượng lúc Ngài còn truyền đạo ở Cù lao Ba. Khi đến vùng Núi Tượng để khai đạo, Ngài thường trú tại nhà của ông Trần Tịnh.

Nửa đêm quân đến rần rần,.

Chánh Hưng bị bắt trói khiêng vào chùa.

Ấp Triêu, Hương Tịnh bắt đùa,.

Khảo tra tấn vấn, hơn thua khá bày?

Khi đó, Đức Bổn Sư đang ngồi tập trung suy niệm tại chùa Tam Bửu, bị thông báo về sự việc đáng lo ngại. Tuy nhiên, Ngài vẫn bình tĩnh và không lo lắng. Trần bá Lộc đã ra lệnh quân lính bao vây chặt chẽ chùa Tam Bửu, nhưng vẫn chưa tìm thấy Đức Bổn Sư.

Các đệ tử thấy Ngài ngồi bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra, ai nấy đều lo sợ cho Ngài sẽ bị bắt. Khi trời sáng trông rõ mặt quan quân, Đức Bổn Su đi ra cửa giữa, cầm cây mác vót (Ngài dùng để vạt thuốc Nam hằng ngày) rất tự nhiên như không hay biết chuyện gì. Nhưng lúc đó Ngài không phải là hình dạng của mình, mà là một cụ già râu tóc bạc phơ, cầm cây mác từ trong chùa đi ra. Bọn thân binh lên cò súng nạt vang: Ông già, đi mau chỗ khác. Lảng vảng đó, ông lớn đập chết bây giờ! Sau đó, Đức Bổn Sư lặng lẽ đi về hướng Bắc rồi thẳng đường lên núi.

Trần bá Lộc bắt giữ tất cả những quan chức cao cấp và ép họ vào chùa để tra tấn và tìm kiếm Thầy để được tha thứ.

Trói ké tất cả đôi tay,.

Buộc phải kiếm Thầy cho được mới nghe.

Sau khi không tìm thấy tông tích của Đúc Bổn Sư trong chùa, chúng đã lên núi lục xét các điện và hang, nhưng vẫn không đạt được kết quả. Cuối cùng, họ quyết định trở về chùa và thu giữ tất cả những vật dụng cần thiết của Ngài để truyền đạo. Họ cũng bắt những người có tên tuổi trong đạo và đưa về Sài Gòn.

(Trường hợp pháp luật này, nhiều trong số những người quyền cao bị bắt giữ tại nhà tù lớn ở Sài Gòn hoặc bị trục xuất đến Côn Đảo, trong đó có ông Trần Tịnh).

4)- PHÁP NẠN LẦN THỨ TƯ:.

Khi xảy ra lần đầu tiên pháp nạn, Đức Bổn Sư chỉ dẫn tín đồ đông đảo lánh nạn tại Vườn Dầu (Cao Miên). Sau khi an ninh được phục hồi ở núi Tượng, Ngài trở về để xây dựng lại cơ sở. Một số người ở lại đất Cao Miên vì sinh kế hoặc hoàn cảnh, trong đó có Thập. Thập được quan Miên phong bổ nhiệm làm trưởng toán cho một đội quân Miên có võ trang. Quân Pháp đã chiếm đất Cao Miên và mẹ của Thập lo sợ Miên đầu Pháp sẽ giết bà và con trai. Bà khuyên Thập nên trở về Nam và chọn một nơi an toàn trong vùng Bảy núi để đợi thời cơ. Thập tuân theo lời khuyên và xin phép quan Cao Miên để trở về quê hương.

Vào khoảng tháng 5 năm Đinh Hợi (1887), toán quân Miên đã đưa Thập đến bờ kinh Vĩnh Tế. Một số quay trở lại đất Miên, một số tình nguyện theo Thập chiếm cứ vùng Xuân Tô quận Tịnh Biên để làm căn cứ. Tuy nhiên, số lượng quân này vì thiếu người chỉ huy tốt có tài và thiếu sự huấn luyện tranh đấu chống lại Pháp, nên đã trở thành toán quân ô hợp, gây ra nhiều tội ác và gây cho lòng người thán phục. Khi Thập trở về đến Xuân Tô, ông đã liên lạc với núi Tượng và tuyên bố mình là tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Đức Bổn Sư, nhưng không ai tin Thập nên không dám liên lạc với ông.

Do hành vi của Thập rất thiếu đạo đức, cư dân trong làng lo sợ sự lan truyền của nguy hiểm, vì vậy họ đã thông báo cho quan chức Pháp tại Châu Đốc.

Quân Pháp tiến vào vây bắt và giết một số người. Họ cũng tóm gọn một số tù binh, trong đó có Phú, được biết đến như là Lão Trùm Phú. Lão Trùm Phú thừa nhận liên lạc với đạo Hiếu Nghĩa tại núi Tượng và đồng bọn của hắn cũng đang ở đó. Quân Pháp ngay lập tức tiến vào núi Tượng.

Quan quân kéo đến Tịnh Biên,.

Trùm là tên Phú đem liền Vĩnh Thông.

Quan quân binh mã đùng đùng,.

Trát đòi An Định, kiết hung không tường….

Quân Pháp đã đến Núi Tượng và yêu cầu người dân tập trung tại làng. Trùm Phú quan sát mọi người trong làng và chỉ ra một người tên Bường là người đồng phe. Tuy nhiên, Bường không tiết lộ thêm bất kỳ ai khác (có lẽ Trùm Phú cũng có nguồn gốc đồng minh vì vậy Pháp đã ép y nhiều lần). Quân Pháp không hài lòng với chiến dịch tốn kém và công phu như vậy chỉ để bắt được một người. Họ đã hỏi làng về các nhà bỏ trống không có người ở.

Gọi làng lớn nhỏ dường bao,.

Mấy nhà dân trốn đường nào biết chăng?

Làng thưa ông lớn hay rằng:.

Nó nghèo, nó trốn làm ăn xứ người.

Quan truyền tỏ nỗi âm hao,.

Dẫn cho quan đốt nhà nào dân đi!

Truyền cho dân chúng tức thì,.

Ở đâu về đó kịp thì làm ăn.

Đừng theo những đảng lăng loàn,.

Ở ăn ngay thẳng chớ mang việc đời…

5)- PHÁP NẠN LẦN THỨ NĂM:.

Vào cuối năm 1887, ở vùng núi Tượng, có một người Miên thân Pháp được gọi là Phủ Miên, người có sức mạnh lớn và thường xuyên đến chơi cờ bạc với những người du thủ du thực người Việt. Một lần, Phủ Miên đã gian lận trong trò chơi cờ bạc và bị đánh tới tấp. Từ đó, Phủ Miên trở nên thù hận và quyết tâm tìm cách trả thù. Hắn đã thuê người làm giả danh sách 8 người trong đảng Cần Vương để tố cáo với nhà cầm quyền Pháp rằng 8 nhân vật này đã hiếp dâm người Miên và chống lại Chính phủ Pháp.

Quân Pháp ở Tri Tôn đã tiến hành diễn tập quân sự, yêu cầu người dân trong làng tập trung để kiểm tra danh tính. Cư dân núi Tượng đã được thông báo và đã tới đầy đủ. Quân đội bắt giữ tất cả 13 người, nhưng do sự van xin của gia đình nạn nhân, chỉ còn 8 người bị xử bắn và chôn trong một hầm, còn lại được tha tự do.

Tám nạn nhân này đã đưa việc oan kêu đến Tòa án tối cao tại Sài Gòn, và người Pháp đã hứa sẽ giải quyết vụ án. Nhưng kết quả lại là chúng tập trung tàu thuyền vào Núi Tượng và giải tán đạo Hiếu Nghĩa, đồng thời chở tất cả các tín đồ trở về quê hương. Trong giờ giảng, có một đoạn mô tả như sau:

Ba ngày giấy lại cảm thương,.

Ngoài ghe Tham biện ghe thuyền thẳng vô.

Truyền rao dân chúng soạn đồ,.

Xứ nào ghe nấy đừng cho lộn vào.

Tham biện viết giấy trao tay,.

Người ở vùng nào đường ấy ra đi.

Ghe, tiền quan trả một khi,.

Người đưa, tiền của quan thì trả cho.

Ra đi biết mấy chiếc đò,.

Kẻ than người khóc reo hò như mưa.

Quan trên kêu mắng ghe đưa,.

Mỗi người một gánh cho vừa mà thôi.

Ô hô sự nghiệp đã rồi,.

Kêu Trời soi xét, thương người thẳng ngay.

Ai xui trò lại gặp Thầy,.

Tiếc công dựng nghiệp ngày nay rã rời….

Trong vụ pháp nạn này, không chỉ có vụ tên Miên vu oan mà còn do phòng Nhì Pháp nhiều lần báo cáo, vì như dân chúng nhiệt tình tín ngưỡng đạo Hiếu Nghĩa, sự kỳ diệu của Đức Bổn Sư, đã nhiều lần vây bắt không được Ngài… V.V… Do đó, họ đã bị kinh sợ, không muốn cho đạo Hiếu Nghĩa phát triển và hợp pháp. Họ đã thả Mật thám trà trộn vào đạo rất đông, trong đó có ông Nguyễn Thanh Liễu (có biệt danh là Năm Củi) là một.

Năm Củi là một nhân viên tình báo tài ba nhất của Pháp. Ông lãnh đạo của Quan Thầy đã vào núi Tượng để gia nhập đạo Hiếu Nghĩa để theo dõi hành động của Đức Bổn Sư. Tuy nhiên, khi tìm đầy đủ bằng chứng rằng Ngài là “Gian Đạo sĩ”, ông đã giác ngộ về lẽ đạo trong những lời truyền đạo của Đức Bổn Sư. Ông đã nhận thấy rằng thuyết Tứ Ân Hiếu Nghĩa không chỉ cứu cánh cho cuộc đời ông mà còn cho cả mọi người. Ông đã từ bỏ danh lợi phù du của thực dân và coi nó là kẻ thù của đồng bào. Ông đã nhận ra tàn nhẫn trong việc lãnh đạo của Pháp để theo dõi Ngài và đã nói với Đức Bổn Sư về tất cả những gì ông đã làm. Từ đó, ông xin tự nguyện hết lòng vì đạo pháp và vì đồng bào để đền bù lại những tội lỗi ông đã lỡ lầm trong quá khứ.

Những người kiên trì và cứng rắn như ông Năm Củi, khi làm việc cho kẻ thù, là một nhân viên quan trọng nhất, nhưng khi ông tin tưởng vào lòng nhiệm mầu và theo lẽ Đạo, ông trở thành người tích cực bảo vệ Đạo pháp và trở nên quá cuồng tín. Từ khi ông chứng kiến sự tàn bạo và vô nhân đạo của Đốc phủ Lộc, với việc giết hại người đạo Hiếu Nghĩa, ông rất tức giận và quyết định cùng với Đức Bổn Sư để giết Đốc phủ Lộc, để cứu giúp đồng bào và người đạo.

Đức Bổn Sư trầm ngâm giây lâu bèn dạy rằng:.

Không nên làm như vậy, tôi khuyên các bạn, nếu bạn là người tu thì không nên vi phạm giới. Điều này sẽ mang lại cho bạn nhiều khó khăn và đau khổ. Những khó khăn bạn đang gặp phải hiện nay chỉ là những vấn đề nhỏ, sau này bạn sẽ phải đối mặt với nhiều thử thách khó khăn hơn nữa! Bởi vậy, tôi khuyên bạn hãy kiên nhẫn và nhịn nhục để hoàn thành trách nhiệm của một người tu hành, tránh vi phạm giới.

Dầu cho Đức Bổn Sư cố giảng giải, dạy răn như vậy, nhưng lòng hăng say diệt bạo của ông Năm Củi đã đến lúc dừng chẳng đặng, nên ông lén Đức Bổn Sư và bá gia bổn đạo, thuê một người Miên gan dạ phục kích khoảng giữa lộ Lạc Quới – Tịnh Biên để ám sát Đốc phủ Trần Bá Lộc. Một mặt ông báo cáo về cho Đốc phủ Lộc hẹn ngày đến núi Tượng để sắp đặt việc bắt Đức Bổn Sư!

Nhưng ông cũng không quên căn dặn Lộc nên hóa trang thường nhơn hẹn gặp nhau nơi trạm Lạc Quới.

Vào ngày hẹn, Miên đã chứng kiến hai người mặc quân phục Pháp từ Tịnh Biên đến Lạc Quới. Anh ta đã bất ngờ bắn chết cả hai người này. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Miên trả súng và nhận tiền thưởng từ ông Năm Củi. Trong khi đó, Trần bá Lộc đã đến trễ và nghe tin có hai người bị bắn chết tại Tịnh Biên. Ông ta đã quay trở lại Châu Đốc và phát hiện ra rằng hai người này đang làm việc cho sở kiều lộ Pháp. Rất tiếc, Miên đã bắn nhầm vì không biết đó là những người vô tội.

Bởi những lý do đã nêu, chính quyền Pháp đã quyết định giải tán đạo Hiếu Nghĩa và đưa người tín đồ về tỉnh của mình bằng ghe thuyền. Sự việc này diễn ra tại thôn An Định (núi Tượng), trong khi Đức Bổn Sư đang giảng đạo tại thôn An Thành (hiện nay thuộc xã Lương Phi, quận Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc).

6) – PHÁP NẠN LẦN THỨ SÁU:.

Dù nhà cầm quyền Pháp đã giải tán đạo Hiếu Nghĩa và đưa tất cả người theo đạo về quê, nhưng vẫn có nhiều người ở lại và theo Thầy, cũng như có người bị đưa về quê nhưng lại tìm cách trở lại núi. Vì vậy, những hành động bạo lực của Pháp không đạt được mục đích như mong đợi.

Tại thôn An Thành, Đức Bổn Sư nghe tin không tốt xảy ra tại thôn An Định, tín đồ rất lo sợ rằng tai họa sẽ đến thôn An Thành sớm hoặc muộn. Trong số đó, có hai anh em làm người hầu cho Ngài: Người anh tên Năm Đồn, người em tên Sáu Lũy. Hai anh em lo sợ rằng quân Pháp có thể đến bắt Ngài, nên khuyên Ngài nên lánh mình trong một thời gian. Tuy nhiên, Đức Bổn Sư vẫn bình tĩnh khuyên mọi người nên yên tâm. Vì quá lo sợ, hai ông Đồn và Lũy đưa Thầy xuống xuồng chở đi lánh nạn! Trong lúc vội vàng, họ quên mang theo cơm gạo. Khi xuồng đi được khoảng 7 cây số, họ thấy mệt mỏi và đói bụng, mới nhớ ra rằng đã quên mang cơm gạo theo. Hai anh em đã phải ghé lại Sóc người Miên và xin cơm ăn để giúp đỡ.

Hai anh em ăn nhanh để đỡ đói rồi vội vã ra đi, điều này khiến cho Sóc Miên nghi ngờ. Họ cho rằng hai người là kẻ cướp bắt người để chuộc tiền, do đó họ bắt đầu đuổi theo. Trong tình huống khẩn cấp, hai ông Đồn và Lũy đã lấy chiếc mền để gói kỹ chiếc ấn Bửu Sơn Kỳ Hương và giấu nó dưới trấp. Cho đến ngày nay, địa điểm đó vẫn được gọi là “Bưng ông Bửu”, cách núi Dài khoảng 8 cây số. Khi đã giấu xong, hai anh em đã tiếp tục đi, nhưng bị bọn người Miên đuổi kịp và bắt lại.

Mắt xem còn cũng chẳng xa,.

Bửu Sơn mền gấm đạp ngay xuống sình.

Cao Miên theo dõi bắt mình,.

Dẫn người đem lại về trình Huyện quan.

Khi ba thôn An Định, An Hoà, An Thành đồng loạt nhận được tin Thầy bị bắt, cả thôn xôn xao than khóc. Những người bình tĩnh thì tập trung lại để thảo luận kế hoạch giải cứu. Trong số đó có ông Hương Đẹt, một người thông minh và tài giỏi, ông kêu gọi những người giàu có trong đạo để đóng góp một số tiền để hối lộ quan Huyện người Miên. Kết quả của lời kêu gọi của ông là thu được số tiền là 50 đồng, một số người trong đạo đã quyết định sẵn sàng cho ông Hương Đẹt đi lo lót cho quan Huyện. Khi ông Hương Đẹt đến nơi, ông đã nói khéo léo rằng những người giàu có này là những người đã làm ăn không tốt, xin cho ông được lãnh ra với số tiền trà nước để tặng quan Huyện. Quan Miên đã đồng ý nhưng phải chờ đến khi chạy tờ ra quan Tham biện Châu Đốc để xem liệu có phải là lẽ hay không, rồi mới cho ông Hương Đẹt được lãnh ra.

Bất ngờ Tham Biện khi nghe tin đã tập trung binh lính đến Tri Tôn để xem mặt người bị bắt cho tường tận, chỉ khi quan Miên cho phép mới thả. Khi đến Tri Tôn, Tham Biên yêu cầu mấy người bị bắt ra để hắn xem mặt. Tuy nhiên, trong số đó có một ông già khoảng chín mươi tuổi, mặt tái mét, mũi dãi lào thào, trông giống như người mắc bệnh hủi. (Lúc này Đức Bổn Sư sử dụng sức mạnh để biến thành một ông già mang bệnh cùi hủi). Người Pháp rất sợ lây nhiễm, khi thấy ông già này có dấu hiệu bệnh hiểm nghèo, họ liền khoác tay bảo vệ và thả ngay.

Quan xem thương tiếc ông già,.

Một hai chờ chết, sống mà được đâu.

Hối làng gấp gấp mau mau,.

Đem về thang thuốc may hầu sống chăng!

Người Pháp đã trả tự do cho Đức Bổn Sư, khiến cho tất cả tín đồ đều rất hạnh phúc. Họ đã đến Tri Tôn và rước Ngài về An Thành. Khi Ngài đến chùa Châu Kinh (An Thành), Xã Đẹt đã lạy Phật và sau đó ngồi xuống để bàn với những vị cao đồ của Đạo. Ngài giả vờ tổ chức một cuộc tang chế và thông báo rằng ông già bịnh hôm qua đã chết để che giấu sự thật cho người Miên. Cổ quan tài cũng được khiêng đi chôn như thật và tổ chức bộ lễ khai tử đàng hoàng.

Áo quan ai dễ biết chi,.

Đải đằng Làng Xã ra đi táng hàng.

Kim Lăng mộ táng An Thành,.

Mai danh ẩn tích lánh mình núi non.

(Mộ giả giả chôn Đức Bổn Sư tại đồi Hai Ký (núi Dài) ở thôn An Thành, hiện tại là Xã Lương Phi. Hàng năm vào mùa Xuân, những người tín đồ H.N. Vẫn đến thăm và thực hiện nghi thức Tảo mộ).

Sau đó, các đệ tử đưa Đức Bổn Sư lên núi Dài để ẩn náo, không ai có thể đến thăm Ngài dù chỉ là viếng thăm. Chỉ có một vài người thân tín chăm sóc Ngài.

7)- PHÁP NẠN LẦN THỨ BẢY:.

Sau khi Pháp giải tán đạo Hiếu Nghĩa và đưa tín đồ về nguyên quán, họ lo sợ những người ở lại sẽ theo Đức Bổn Sư và tái lập cơ sở chùa chiền. Vì vậy, họ quyết định “trừ gốc diệt ngọn” để Ngài không còn nơi trú ngụ và tập hợp tín đồ nữa.

Do vậy, không lâu sau đó, một ngày nọ, người Pháp tập trung lực lượng, bất ngờ xâm nhập vào núi Tượng, tiêu diệt tất cả các đền chùa và đốt phá các ngôi nhà của tín đồ, thu thập tất cả những đồ dùng cần thiết cho cuộc sống, và đem đi những vật phẩm thiêng liêng của đạo mà tín đồ tận tâm sùng bái và tôn kính.

(Trong thời điểm này, người Pháp đã mang đi một bức thánh giá và một cặp đài trụ khắc rất đẹp để thờ tại chùa Tam Bửu. Họ đã đem chúng về Saigon và hiện nay vẫn còn một số di vật tại Bảo tàng viện Saigon).

Quan quân xem thấy kinh hồn,.

Chùa cao cột lớn mới ôm đặng nào?

Quan rằng liệu tính làm sao,.

Dùng dây mà buộc giựt nhào ngã lăn.

Tràng phang, cột phướng nhổ quăng,.

Còn bàn hương án bắt dân khiêng rày.

Kìa là Long trụ hai cây,.

Truyền dân khiêng vác xe ngay xuống tàu….

Trong vụ tấn công chùa chiền, chúng phá hủy nhà cửa của Đạo Hiếu Nghĩa và chỉ còn lại ngôi đền Bồng Lai (không rõ chúng đã bỏ sót vì lý do gì).

Sự cố này lại đem đến thêm một kỷ niệm đau buồn cho người đạo, vì lần này Pháp đã tập hợp các tay du thủ du thực từ các Làng khác và bọn người Miên đến đây để lấy trộm những vật dụng quan trọng.

Các làng mừng chạy bôn chôn,.

Kéo vô An Định coi còn vật chi.

Kẻ thời chở ghế lấy nghi,.

Dỡ nhà vác cột một khi đem về.

Bạc tiền lấy hết bộn bề,.

Bắt bò, xúc lúa đem về rất đông.

Quân đội Pháp đã tấn công các đền miếu và phá hủy các ngôi nhà của cư dân, trong khi người dân nghèo phải tìm cách kiếm sống bằng cách săn bắt và trộm cắp. Sau khi thu thập đủ đồ cần thiết, họ còn vứt bỏ các loại hoa quả trên đường trở về!

Tóm lại, người Pháp quyết định “dọn sạch” cơ sở đạo, do đó sau khi chúng rút lui, thôn An Định trở thành một cảnh quan u tối, nhà cửa bị bỏ hoang. Nhà cầm quyền Pháp đã chuyển những vật dụng quan trọng của đạo về Châu Đốc và đồng thời thông báo cho dinh Toàn Quyền ở Sài Gòn.

Tham Biện chạy giấy liền tay,.

Tòa trên nghị luận việc nay thế nào?

Giấy tờ chạy xuống rất mau,.

Tàu đò một chiếc chở về Thủ đô.

Long trụ, Hương án hai đồ,.

Chở đi cho khéo để vô Bảo Tàng….

—O O o—.

8.- TÁI THIẾT CHÙA MIỄU:.

Từ năm 1876 (Bính Tý), Đức Bổn Sư đã dẫn dắt tín đồ vào núi Tượng mở rộng thôn xã, truyền bá giáo lý Tứ Ân Hiếu Nghĩa trong vòng 12 năm cho tất cả mọi người. Trong thời gian đó, đã có 7 lần xảy ra pháp nạn và 3 lần ngôi chùa bị phá hủy, nhà cửa bị đốt phá và đạo diễn giải tán. (Trong Sấm Ngũ Giáo, có đoạn Đức Bổn Sư than về thảm họa pháp nạn này).

Bây giờ mới hết trường nhì,.

Niệm trời lạy Phật mấy khi cho tường.

Lời thầy nói gẩm thêm thương!

Nào ai có biết mấy trường mà lo!…).

Các vụ tấn công này đều do quân Pháp và đồng minh của họ lên kế hoạch, còn tấn công và giết người của bọn Miên hiếp không đếm xuể. Mặc dù đã gặp nhiều khó khăn, Đức Bổn Sư vẫn đi trực tiếp để giáo dục mọi người, cải tiến Phật pháp trước những hành động bạo lực của những người không cùng chủng tộc.

Sau những năm tháng khổ đau đó, vào ngày rằm tháng 2 năm Mậu Tý (1888), chính quyền Pháp nhận thấy rằng chính sách tàn bạo không thể đánh bại lòng tin cao độ của tín đồ Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Vì vậy, họ cho phép Ngài trở về núi Tượng để tái thiết chùa chiền và giáo hóa tín đồ. Tuy nhiên, Ngài phải tuân thủ các quy định kiểm soát và chúng đã sắp xếp và tổ chức Hội Tề để quản lý các thôn ấp của Ngài. Kể từ đó, thôn An Định đã được sát nhập vào xã Ba Chúc của người Miên, và thôn An Thàng đã trở thành ấp An Thành thuộc xã Lương Phi.

Sự linh hoạt của Pháp đối với tôn giáo TÂHN đều có trong một chương trình chung rất có lợi cho họ. Vì hoàn cảnh Việt Nam lúc đó đã gần như rơi vào tay thực dân Pháp và miền Nam Việt Nam đã được nắm trong tay của họ. Vua Hàm Nghi đã bị bắt (ngày 26-9-1888, theo Việt Nam Sử lược của Trần trọng Kim). Đảng Cần Vương và Văn Thân cũng dần mất đi sức mạnh, không còn cuộc đấu tranh nào đáng kể với họ. Do đó, người Pháp thường thay đổi chiến lược bạo lực bằng cách áp dụng chính sách dân tộc để đặt nền móng cho việc thực hiện chế độ đô hộ. (Ngày 15-11-1887, Pháp đã bổ nhiệm Phủ Tổng Đốc toàn quyền tại Sài Gòn. Vị toàn quyền Pháp đầu tiên tại Sài Gòn tên là Constant, theo Việt Nam Sử lược của Trần trọng Kim).

Dù đã bị Pháp đuổi đi và tàn phá chùa nhà nhiều lần, nhưng những người trung thành với Đạo vẫn bí mật trở về đây, tạm gác những chiếc lều tranh nhỏ để thờ phượng và che chở khỏi nắng mưa. Khi nghe tin nhà cầm quyền Pháp sắp trở lại, thì:

Bổn đạo các xứ hay liền,.

Kẻ ghe người bộ đồng thuyền thẳng lên.

Kẻ thời phát cỏ dọn nền,.

Đốn cây tranh lá đôi bên soạn làm….

Người đến trước phải làm sạch sẽ, sửa sang nhà cửa bằng cách cắt bớt cây cối; hãy tôn trọng người đến sau, khi đến chỗ cảng Vĩnh Tế, lính Mã Tà tại đây sẽ kiểm tra và chỉ trích không cho vào núi Tượng.

Vĩnh Ngươn đồn đóng ngoài vàm,.

Mã Tà canh thủ, ai toan lẽ nào?

Ghe thuyền tra giấy gắt gao,.

Ai về núi Tượng ào ào đuổi ra….

Tuy bị cấm vào núi Tượng nhưng vì tình cảm và lòng mến thương đạo của mình, một số người vẫn tìm cách trốn thoát khỏi sự đàn áp và đi vào núi để đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, vì thiếu phương tiện nên một số người phải đậu lại và chờ đợi cơ hội.

Vào tháng ba hàng năm, bệnh thời khí lan rộng khắp vùng An Giang và Châu Đốc, gây ra nhiều thiệt hại cho con người và động vật. Đức Bổn Sư đã nghe tin về tình trạng này và đã phát đạo bùa cho mỗi tín đồ để phòng tránh bệnh tật, từ đó không có bệnh tật xâm phạm đến họ.

Bệnh tật ngày càng lan rộng, lính gác tại đồn Vĩnh Ngươn sợ hãi và không quan tâm đến việc ngăn chặn tàu thuyền đến. Điều này đã giúp cho những người bị mắc kẹt ở đó có thể đi vào núi Tượng thong thả. Đức Bổn Sư từ tâm động viên, Ngài trao linh phù, chỉ dẫn cách điều trị bệnh và phân công cho các cao thủ về những vùng có nguy cơ bị lây nhiễm bệnh để cứu giúp nhân loại. Cho đến tháng 6 cùng năm, các cao thủ mới có thể chống lại được căn bệnh Thiên thời truyền nhiễm.

Tháng năm, tháng sáu mới bình,.

Nhơn dân khỏe mạnh giữ gìn làm ăn….

—O O o—.

V- NHỮNG ĐIỀU LINH ỨNG VÀ HUYỀN DIỆU.

Mỗi Phật tử trong Giáo pháp Phật giáo Bắc Kinh Tự khi đạt được sự giác ngộ, thường tiên tri tương lai, gợi nhớ quá khứ và giúp đỡ cho người khác chữa trị những bệnh tật khó khăn. Đức Thế Tôn là một vị đã chứng minh điều đó.

Chúng tôi muốn ghi lại những câu chuyện liên quan đến Đức Bổn Sư khi Ngài còn sống và sau khi Ngài qua đời. Ngoài ra, còn có những lời răn dạy chưa từng được nói, để môn đệ có thể học hỏi hoặc theo dõi sự thay đổi và tương lai của đạo. Chúng tôi sẽ thu thập các câu chuyện này từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả truyền miệng, lịch sử và kinh giảng. Chúng tôi sẽ cố gắng ghi chính xác những câu chuyện này mà không thêm hoặc bớt điều gì.

1.- TIÊN TRI VIỆC DỜI SAI NỀN CHÙA:.

Vào niên hiệu NHâm Ngũ (1882), Đức Bổn Sư hướng dẫn các đệ tử đến vùng núi Dài để khám phá địa hình, địa vật và thành lập thôn An Hoà.

Trước khi tiến hành đốn hạ rừng và xây dựng đường để đưa tín đồ tới đây, Ngài đã xem xét phong thổ để chọn một vị trí phù hợp để xây dựng chùa và truyền bá giáo pháp cho thôn mới.

Sau khi cấm Trung tâm nền chùa, Ngài chỉ dẫn các đệ tử đến đó để thực hiện lễ trảm thảo và đập nền. Sau khi nền được đập xong, Ngài đến kiểm tra lại. Sau khi kiểm tra chu vi nền chùa, Ngài nhận thấy rằng đệ tử đã đập nền sai vị trí của Trung tâm của Ngài.

Thôi lỡ rồi, số phận định sao hay vậy. Sau nầy họ ”Mao” nó ở chớ không sao!

Dù Ngài đã khuyên người đạo hữu đừng xây dựng ngôi chùa, nhưng họ vẫn tiếp tục xây dựng và đặt tên cho nó là “Phổ Đà Tự”. Ngôi chùa này nằm ở trung tâm của thôn An Hòa. Người đạo hữu không biết Ngài muốn ám chỉ đến con người hay vật gì của họ với từ “Mao”. Tuy nhiên, sau khi Ngài qua đời, quân Pháp đã chiếm đóng chùa Phổ Đà và chuyển sang tay quân đội khác đến tận ngày nay.

—O O o–.

2.- TIÊN TRI VIỆC PHÁP KHỦNG BỐ – CHẠY LOẠN VƯỜN DẦU:.

Người Pháp đã nhiều lần tổ chức bắt giữ Đức Bổn Sư, để ngăn dân chúng tập trung tại những nơi khó kiểm soát. Chúng thường sai những người ủng hộ thực dân xâm lược, xâm nhập vào hàng ngũ của Đạo để thực hiện mục đích này. Tuy nhiên, những người lãnh đạo bắt giữ Đức Bổn Sư lại là những người trung thành với Đạo, như ông Nguyễn Thanh Liễu – một trường hợp điển hình. Chính vì vậy, chúng càng ngày càng căm ghét và quan tâm đến Đạo Hiếu Nghĩa.

Vào tháng giêng năm Ất Dậu (1885), Ngài đã truyền cho các tín đồ lập Trường gà để tổ chức đá gà. Tuy nhiên, trong trận đấu này, gà không được giết để tránh lãng phí và không được phép kêu lên khi thua hay thắng. Mọi người, không phân biệt tuổi tác hay kích thước, đều được tham gia đá gà với mục đích giải trí. Ngài cũng dạy cho đệ tử của mình cách chuẩn bị để đi du lịch.

… Thầy rằng truyền dạy vậy thì,.

Mai chiều nam nữ phải đi du hồ.

Phong trần đều đủ phải cho,.

Suối Tiên tắm mát gậy dò thuốc linh.

Mặc dù Ngài đã giải thích cách thức lập Trường đá gà và chuẩn bị cho chuyến du hành tâm linh, nhưng tín đồ vẫn cảm thấy mơ hồ về ý nghĩa của chúng. Ngài đã cho biết thêm rằng nếu đủ người có mặt, Ngài sẽ thể hiện một bài Kệ để truyền cảm hứng mãi mãi.

Cửa Thiền rày đã bặt hơi bon,.

Huê hạc hương bay cảnh vẫn còn.

Trống sấm năm canh nghe lặng lẽ,.

Kèn kêu muôn dặm hỡi còn non.

Dưới hồ mưa lấp sen tơi tả,.

Trên đỉnh sương sa đá chẳng mòn.

Nghìn thuở gìn vàng ghi dạ ngọc,.

Chín trùng non nước biệt tôi con.

(Một tín đồ Hiếu Nghĩa đã viết 8 câu thi và treo lên cột gạch trước chùa Phổ Đà tại thôn An Hoà).

Những Học trò của Ngài sao chép bài Kệ này, mỗi người đều đưa ra ý kiến khác nhau. Không ai dám khẳng định rằng Ngài muốn tiết lộ điều gì đang sắp xảy ra cho các tín đồ.

Theo truyền thuyết, khi Đức Bổn sư đang tổ chức một Lễ cúng, một tín đồ của Đức Phật Trùm từ núi Tà Lơn đến và được mời vào. Người đó vào xá của Đức Bổn sư và dâng lên cho Ngài 4 chiếc bánh tét và nói rằng: “Thầy tôi sai đem 4 chiếc bánh tét này cho ông Đạo ở núi Tượng”. Các đệ tử hỏi Ngài, Đức Phật Trùm cho bánh tét với ý nghĩa gì? Ngài trả lời: “Đó là Ngài Trùm ngạo ta rằng đến tháng 4 thì chạy tét!”. Tuy nhiên, tín đồ không hiểu ý nghĩa của lời Ngài.

Đức Bổn Sư bèn gởi trả lễ cho Đức Phật Trùm 3 trái thơm.

Các đệ tử cũng hỏi về ý nghĩa 3 trái thơm ? Đức Phật Trùm đáp:.

“Theo ông Đạo, mặc dù phải chạy đua vào tháng Tư, nhưng sau đó trong ba tháng sẽ trở lại và được gọi là mùa đông danh tiếng.”

Thật vậy, vào tháng 4, khi giặc Pháp đang tàn bạo, Ngài đã phải dẫn dắt tín đồ chạy tán loạn đến vườn Dầu (Cao Miên). Lúc đó, tín đồ mới thấy rõ sự cần thiết của cuộc đối thoại đã được đề cập trước đó. Ngoài ra, tháng Tư cùng năm Dậu cũng là thời điểm một trận đá gà diễn ra.

—O O o—.

3.- CHUYỆN ÔNG CỬ ĐA:.

Khi còn hoang vu và đầy nguy hiểm với nhiều loài động vật hung dữ, vùng Bảy Núi đã được Đức Bổn Sư khai hoang và mở Đạo tại đây. Đây cũng là thời điểm Đảng Cần Vương tan rã và quân Pháp chiếm trọn miền Nam nước Việt. Vì vậy, cơ sở Đạo Hiếu Nghĩa trở thành một nơi ẩn lánh và qui tụ của những nhà chí sĩ Cần Vương khi chống lại sự xâm lược của Pháp. Nơi đây cũng là một điểm dừng chân cho các cánh chim giang hồ, và rừng núi Thất sơn trở thành một nơi trú ẩn cho những người đang chờ đợi thời cơ để chiến đấu. Ông Cử Đa cũng là một trong số đó.

Theo truyền thuyết, Ông Nguyễn văn Đa, được biết đến với cái tên Cử Đa (không rõ Cử có phải là biệt danh của ông Tú ông Cử hay không?) Cùng với ông Trần văn Thành đã thành lập chiến khu Bảy Thưa (Nhà Láng) để chống lại Pháp. Khi thất bại, ông Cử đã đến đây để học tập với Đức Bổn Sư và được Ngài đổi tên thành Thủ Tọa Trực.

Sau một thời gian, ông Cử ẩn mình trong lớp áo người Cư sĩ của Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, ông nghe tin giặc Pháp tàn phá nơi này, tàn bạo xâm lược nơi khác, sự gan dạ của ông trỗi dậy trong tâm hồn, tình yêu quê hương đang trỗi dậy trong lòng ông. Lúc đó cũng có những vị Đạo sĩ ở núi Tà Lơn tập luyện bùa phép, biết sử dụng kiếm và đao, cũng đến vùng Bảy Núi chờ đợi cơ hội để đánh Pháp. Những vị Đạo sĩ này thường xuyên khuyến khích lòng yêu nước của ông Cử và mời ông cùng tham gia chiến đấu chống lại giặc.

Vì hoàn cảnh và thân thế của ông không cho phép ông dừng lại ở một nơi, ông thường miệng niệm Di Đà và tay lần tràng hạt. Vì thế, ông đã đến gặp Đức Bổn Sư để được hướng dẫn và lên đường chống giặc. Tuy nhiên, Đức Bổn Sư cảnh báo rằng: “Tôi không thể cản trở lòng yêu nước của ông Cử, nhưng thời cơ chưa đến và khí số Pháp còn dài. Ngay cả khi đàn bà gõ đũa bếp lên đầu nó, ông Cử cũng không nói gì”. (Câu chuyện này được ứng nghiệm vào năm 1945, khi Pháp đang trên đà rượt chạy và đi vào thôn quê đói khát xin cơm nhưng bị đàn bà Việt Nam đuổi đi). Đức Bổn Sư tiếp tục nói: “Hãy về đóng một cái cối xay lúa và mang đến đây. Nếu tôi gõ ba tiếng chuông mà cối không bể, thì cuộc chiến chống Pháp của ông sẽ thành công”.

Ông Cử nghe lời về đóng cái cối xay với ba niềng sắt.

Sau khi đóng xong, ông đã mang sản phẩm đến trình cho Đức Bổn Sư. Không cần suy nghĩ, Ngài ngay lập tức đến bàn Kinh và đánh lên ba lần chuông, khiến cái cối của ông Cử Đa bị vỡ thành bốn mảnh ngay lập tức!

Dù thất vọng, nhưng ông cử Đa quyết tâm chống lại Pháp cho đến cùng. Ông bí mật liên kết với những đồng đội cũ và các vị hiệp sĩ ở núi Tà Lơn tiến hành tấn công trại địch Cây Mít của Pháp (nằm tại kinh độ Vĩnh Tế). Vì quân lính và vũ khí còn hạn chế nên thất bại, hàng ngũ tan rã, nhiều người tử vong. Ông Cử không quay trở lại núi Tượng nữa, mà nhờ sự hướng dẫn của những vị hiệp sĩ và một số tướng quân, ông và đội ngũ của mình trở về núi Tà Lơn. Nghe nói sau này ông đã thành đạo.

—O O o—.

4.- CHỨNG QUẢ NGƯỜI TỰ THIÊU:.

Có nhiều cuộc chiến chống lại Pháp xảy ra liên tiếp, như vấn đề ông Cử Đa, tên Thập, ông Nguyễn thanh Liễu và nhiều người khác. Những người này sử dụng vũ khí và bạo lực, trong khi đa số tín đồ Hiếu Nghĩa không dùng bạo lực và không hợp tác. Do đó, người Pháp đã quyết định giải tán các đạo và triệt tiêu các miếu chùa để tránh những hậu quả tiềm tàng.

Vào ngày 15 tháng tư năm 1885, quân Pháp đã tấn công và chiếm đóng núi Tượng. Trong số những người bị ảnh hưởng có rất nhiều người Miên, bao gồm cả thân binh và người “con hôi”. Khi tin tức về việc này lan truyền đến Vĩnh Thông (khoảng cách 4 cây số từ núi Tượng), tất cả người dân đều hoang mang không biết nên chạy đi đâu. Họ đã quy tụ lại xung quanh Đức Bổn Sư.

Thôi thôi chẳng biết chạy đâu,.

Tựu ra Tam Bửu mà cầu Phật Tiên.

Đua nhau lớn nhỏ đi liền,.

Trẻ già tựu hết gần miền canh hai.

Mảng còn than vắn thở dài,.

Người đều tha thiết ai hoài thảm thương.

Gẫm trong sanh tử lẽ thường,.

Nội làng Đại tiểu náo nương trong chùa….

Trong khi những người tín đồ đến chùa đông nức, có kẻ khóc người than, thì quân Pháp kéo đến và bao vây chùa. Đức Bổn Sư rất bình tĩnh như không có gì xảy ra. Ngài đã hội tất cả các tín đồ lại và nói rằng: Vì tình hình đã đến như thế này, tất cả mọi người hãy đến chùa để cháy chùa cùng tôi để theo đuổi Phật, thay vì để bị giặc bắt! Người ta nghe lời Ngài, không ai dám tự thiêu, chỉ yêu cầu Ngài dẫn dắt họ trốn thoát khỏi giặc.

Dù vậy, Ngài vẫn thắp hương và cầu nguyện tại các bàn Phật trước khi dẫn tín đồ đi về phía Tây Bắc núi Tượng. Tất cả các thành viên trong đoàn, bao gồm cả người lớn và trẻ em, có số lượng lên đến 1.800 người, đã được đi ra cửa công khai mà không bị quân Pháp và Miên cản trở hoặc kiểm tra. Ngài chỉ dẫn tín đồ đi qua kinh Vĩnh Tế, vượt qua đồng băng và trực tiếp đến địa điểm Vườn Dầu (Cao Miên).

Không ai dự đoán được tác dụng của việc Ngài dẫn dắt tín đồ đi tị nạn trên đất Miền. Vì sao Ngài không dẫn đến núi Dài để trốn?

Bởi vì hiện nay Ngài đã mở hai khu phố An Hòa và An Thành. Khu phố An Thành cách khoảng 8 cây số từ vị trí xảy ra, có rừng núi đồi dốc rộng lớn có thể chứa hàng trăm ngàn người, các nhà Pháp cũng không thể tìm thấy bất kỳ dấu vết nào. Vì sao Ngài lại phải đau đầu sống tại vùng đất Cao Miên?

Chuyện ấy thuộc về huyền vi, đời sau nầy ai muốn bàn thế nào cũng được.

Trong khi đang đi giữa đường, Ngài yêu cầu các tín đồ dừng lại để cầu nguyện cho hai người tự thiêu vì Đạo pháp. Tất cả mọi người đều tuân theo yêu cầu của Ngài, không ai không hiểu vì sao. Sau đó mới biết rằng, trong ngày và giờ đó, đã có hai vợ chồng người tín đồ già tự thiêu tại núi Tượng.

Nguyên có hai vợ chồng theo đạo, nhà cách chùa khoảng 500 bước chân. Khi tin giặc Pháp đến đốt chùa và giải tán đạo, Đức Bổn Sư đã nói những lời cảnh báo nghiêm túc với những người theo đạo.

Sau khi Ngài chỉ dẫn họ đi, vợ chồng ông Lão quyết định ở lại và tuân thủ lời Ngài: “Tự thiêu để về với Phật, không thể để cho giặc bắt”. Vì vậy, họ chờ Ngài đi xa trước khi quyết định tự thiêu để không phải chứng kiến sự thống khổ trước mắt. Đồng thời, họ cũng bày tỏ sự phản đối đối với sự vô nhân đạo của giặc Pháp. Bà đồng ý với quyết định này, do đó hai ông bà đã đóng góp cho việc khai mở vấn đề tự thiêu vì Đạo pháp tại Việt Nam.

—O O o—.

5.- TIÊN TRI CUỘC PHẢN THANH PHỤC MINH CỦA NƯỚC TÀU:.

Như đã đề cập ở các chương trước, những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa sẽ thờ cúng tượng Quan Thánh và dùng chuông mõ. Điều này tạo cơ hội cho người Trung Hoa để bán những vật phẩm đạo cần thiết với giá rất đắt, bao gồm Kinh điển, tượng Quan Đế, chuỗi Bồ Đề, chuông mõ và nhiều hơn nữa, thay vì ban đầu họ cho những vật phẩm này miễn phí.

Từ việc từ chối quảng cáo, đã trở thành nghề chuyên nghiệp của những người Trung Quốc khi mua bán hàng hóa.

Các tín đồ vào bạch với Đức Bổn Sư về việc thương mãi của họ.

Lúc ấy Ngài đang tham thiền tĩnh tọa, bỗng nhiên Ngài ứng khẩu:.

“Trước khi ra đi, tôi đã nhắc nhở rằng Bồ Đề Chuông Mõ phải được ấn tống, nhưng giờ đây nó đã thay đổi và bán nó, tôi sẽ quay lại để giải quyết vấn đề này.”

Sau khi ông viên tịch một thời gian, cuộc cách mạng phản đế ở Trung Quốc đã thành công (Tân Hợi – 1911). Chính phủ tạm thời của họ đã ra lệnh “Cắt Đuôi Chệt” của người Mãn Thanh. Chỉ có tín đồ của Đạo Hiếu Nghĩa mới hiểu và thực hiện theo lời tiên tri của ông.

—O O o—.

6.- CUỘC MỞ ẾM Ở THỦY ĐÀI SƠN:.

Khi Đức Bổn Sư chỉ dẫn các tín đồ từ Cù Lao Ba đến núi Tượng và đến Vĩnh Thông (cách núi Tượng 4 cây số), Ngài yêu cầu các tín đồ dừng lại và tạm trú tại bờ kinh.

Một ngày nọ, Thầy cùng một số đệ tử lên núi Tượng để xem phong thủy và tìm nơi làm trung tâm truyền đạo. Khi đến hòn Thủy Đài Sơn (tức núi Nước), Thầy bị ngăn lại và cảnh báo về sự nguy hiểm của địa điểm này vì có độc khí và 5 vị ma quỷ. Độc khí bắt nguồn từ hang Thuồng Luồng ở phía Tây, còn năm vị ma quỷ ở 5 gốc bộng cây Da to, do người Tàu sai khiến khi giữ năm cây ếm của họ.

Ông cũng đề cập thêm rằng: Người Trung Quốc có một trường phái Phù Thủy rất mạnh, họ thường đi khắp nơi để tìm kiếm các nước có phong thủy tốt và có thể tận dụng để giúp đỡ người khác. Nếu họ không thể trở thành chủ nhân của đất đai đó, họ sẽ phá hoại cho nó đi vào suy vong!

Sau khi giải thích xong, Ngài dẫn đệ tử quay trở lại. Ngày hôm sau, Ngài mang theo một chiếc khăn bùa màu vàng với hình vẽ trên nhiễu điều và một chiếc khăn khác để bịt đầu rìu cho thợ mộc. Ngài và các đệ tử cùng quay trở lại Thủy Đài Sơn để lấp hang Thuồng Luồng, hạ cây Da và đào lấy ếm của người Tàu. Sau khi hoàn thành công việc, các đệ tử vẫn an toàn trở về.

Các loại khăn này được Ngài truyền cho đệ tử của mình, ông Trần Tịnh, có biệt danh là Ngô Thiện Căng. Hiện nay, con cháu của ông Trần Tịnh vẫn giữ những loại khăn này. Ngoài những loại khăn trên, Ngài còn truyền cho ông Trần Tịnh một đồng xu vàng, để sử dụng khi chặt những cây cổ thụ có tinh quái, giúp cho việc chặt cây trở nên dễ dàng hơn.

Cư dân gốc Trung Hoa tại Hà Tiên nghe tin Ngài đã đóng băng hang Thuồng Luồng và khai thác, họ đã thông báo cho Pháp rằng:

“Ở kinh Vĩnh Tế có một người Cách mạng, đang tập hợp vật dụng để chuẩn bị chống lại Pháp”, điều này làm nhà cầm quyền Pháp chú ý đến các hành động của người đó. Việc này cũng là một trong những nguyên nhân của việc khủng bố đạo Hiếu Nghĩa. Mặc dù biết như vậy, người đó vẫn không chùn bước trước bạo lực. Người đó vẫn dẫn dắt tín đồ đi đến phía Đông núi Tượng khai hoang, lập thôn ấp, xây dựng chùa miếu để truyền bá cho đến ngày nay.

—O O o—.

7.- HỔ CỬ SÁT SANH:.

Theo ngạn ngữ của các tiền bối: Khi ông Nguyễn văn Thoại chỉ định đốc suất đào kinh Vĩnh Tế, từ Châu Đốc qua Hà Tiên. Việc đào này đã gây ra nhiều khó khăn cho nhân dân, một số người phải đối mặt với nguy hiểm khi lội qua sông Hậu Giang, đặc biệt là ở khu vực Vàm Nao, nhiều người đã bị cá mập tấn công. Đa số người bị sơn lam và đau ốm phải nằm dựa vào bờ kinh, và ban đêm bị các loài động vật như cọp và beo từ Bảy Núi xuống đây tấn công và giết chết vô số người.

Thời xưa, người thường nói: Đức Bổn Sư dẫn tín đồ đến đây để mở rừng, xây dựng Làng mới, giống như dẫn người vào đây để hiến tặng cho Cọp, Beo! Tuy nhiên, thực tế lại khác, từ khi Ngài đến đây mở rừng, xây dựng giáo pháp cho đến ngày nay, chưa từng xảy ra sự cố về Hổ, Lang, hay các loài thú hung dữ. Điều này rất đáng để mọi người chú ý.

Bắt đầu cho quá trình khai mở thôn An Định, khi đến phía Nam của ngọn đồi lớn núi Tượng, người ta bỗng gặp một đống xương cao nghệu, trong đó có xương của người và thú. Mọi người đều rùng mình khi chứng kiến điều này! Đức Bổn Sư sau đó đã đào huyệt và chôn đống xương ấy, đồng thời Ngài cũng đã dọn nền tại đây để thành lập một ngôi miếu, được gọi là Mã Châu Miếu.

Một ngày kia, một người già từ núi Dài đến núi Tượng và xin ở qua đêm tại nhà của một người trong xóm núi Nước. Ông cho biết sẽ đợi đến tối để đón người đi chợ Lạc Quới và nhờ mua thịt heo. Trong hai đêm liên tiếp, ông đã xin ở qua đêm và nhờ mua thịt như vậy. Chủ nhà tò mò và quyết định kiểm tra nơi ông già ngủ để tìm hiểu. Đột nhiên, người chủ nhà bị kinh ngạc khi biết rằng ông già đã đi tiểu tại nơi mà ông ngủ!

Qua đêm thứ ba, chủ nhà cố thức rình xem kỹ hành động của ông già quái lạ nầy.

Về tinh thần, phải có lòng tin và kiên nhẫn, hãy tìm đến những giải pháp hợp lý để giải quyết vấn đề” nhưng khi đối mặt trực tiếp với lão cọp bạch, ông ta vẫn cảm thấy sợ hãi. Vào ban đêm, ông già ngủ say, bất ngờ xuất hiện một con hổ trắng đang nằm ngủ ngáy vang! Chủ nhà không dám ngủ, thức trắng đêm và trì niệm thần chú: ”Giáng Long phục Hổ” của Đức Bổn Sư truyền thọ, và cố cắn răng lẳng lặng mà chờ đến sáng. Dù ông chủ nhà thường nghe Đức Bổn Sư giảng giải về tinh thần, phải có lòng tin và kiên nhẫn, và tìm đến những giải pháp hợp lý để giải quyết vấn đề, nhưng khi đối mặt trực tiếp với con hổ trắng, ông ta vẫn cảm thấy sợ hãi.

Các loài thú độc ác ở đây đều tuân theo tôi. Nếu bạn đến rừng núi và gặp chúng, hãy xem như bạn đồng hành và niệm chú “Giáng Long phục Hổ” để tránh những rắc rối. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy lo lắng và mắt luôn nhìn vào “ông già cọp Bạch” đang nằm ngủ!

Trời vừa mờ đất, ông phóng nước đại đến chùa Tam Bửu, vừa gặp Đức Bổn Sư, Ngài liền mỉm cười hỏi:.

– Chắc đêm nay anh ngủ không được?

Ông chủ nhà vừa run rẩy vừa trả lời :.

– Bạch sư, có ông Cọp Bạch đến ngủ nhờ nhà đệ tử trong ba đêm liền, để gởi mua thịt heo.

Vậy anh không nhận thấy một đống xương lớn ở miếu Mã Châu sao? Ngài tiếp tục nói rằng Lão Bạch Hổ là Chúa sơn lâm ở đó và đã theo đạo Phật, do đó ông ta phải tự mua thịt cho các đồng loại để không vi phạm giới luật. Vì vậy, anh không nên lo sợ đồng đạo của mình!

—O O o—.

8.- CHỨNG ĐẠI TRAI ĐÀN:.

Những người tuân theo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mỗi khi thờ cúng phải chuẩn bị đầy đủ hai thứ: Đồ thờ và Sách kinh. Ngoài hương, đèn và quả trà ra, các vật phẩm khác tùy thuộc vào mục đích thờ cúng. Sách kinh là yếu tố quan trọng và phải tuân theo đúng nghi thức của Đạo khi tụng niệm.

Một ngày nọ, Đức Bổn Sư đứng dưới trời nhìn lên một chút và sau đó quay lại chùa để yêu cầu đệ tử của mình chuẩn bị cho một đám cưới. Các đệ tử không hiểu tại sao, nhưng vẫn tuân theo lệnh của Ngài mà không hỏi. Thông thường, việc chuẩn bị cho một đám cưới trong Đạo phải trình giấy tờ trước, thậm chí là trễ cũng phải ba ngày, nhưng Đức Bổn Sư yêu cầu chuẩn bị chỉ trong vài giờ, điều này chưa bao giờ xảy ra trước đây. Mặc dù họ biết rằng việc này rất gấp, nhưng các Cư sĩ vẫn hợp lại để làm theo ý Ngài.

Sau khi hoàn thành giấy điệp, Ngài triệu tập các đệ tử để cùng Ngài thực hiện lễ Đại cúng. Vào giữa đêm, mọi người đã sẵn sàng trang phục chỉnh tề để đi theo Ngài, tuy nhiên, họ chưa biết lễ Đại cúng được tổ chức ở đâu. Khi đến một ngôi nhà tranh, Ngài dừng lại và cho biết rằng đây là nơi sắp diễn ra lễ Đại Trai đàn. Mặc dù nhà rất nghèo, nhưng lễ cúng được tổ chức rất trang nghiêm và sạch sẽ, xung quanh nhà đầy hoa hương thơm ngát. Dù cửa nhà đóng kín, từ đường phố có thể nhìn thấy từ bếp đến phòng thờ, bàn thờ được làm từ vạt tre và được đặt trên những gốc cây làm chân.

Trên bàn đã đặt sẵn những phẩm vật cần thiết, khói hương bay nghi ngút.

Người Cư sĩ vào gõ cửa và gọi nhỏ:.

– Bà Hai, Bà Hai ra mở cửa, có Thầy đến.

Bà đàn bà vội vàng chạy ra mở cửa và rất ngạc nhiên khi nhìn thấy Đức Bổn Sư. Ngài bước vào một cách thoải mái và nói:

Tôi nghe Chư Vị truyền lại, tối nay chị tổ chức lễ Đại cúng nên tôi và mọi người đến tham dự và cầu nguyện cho linh hồn.

Người đàn bà quì xuống thưa:.

Thầy Bạch, gia đình đệ tử khó khăn, không đủ nguồn lực nên đệ tử không dám đến Thầy. Một ngày, đệ tử đi ra đồng và bắt được một số cua, đến tối mới chế biến và dâng lên. Chỉ còn phần kinh pháp là đệ tử lo được.

Đức Bổn Sư dùng lời lẽ đạo đức mà an ủi, đồng thời Ngài cho bà biết tiếp:.

– Lễ cúng của chị có ba điều mà người đời khó làm đủ được:.

Thứ nhứt là niệm Kinh pháp chính chắn. Thứ nhì là lòng thành.

Thứ ba là cảm động đến mười phương chư Phật.

—O O o—.

9.- QUÀY CHUỐI CƠM NON:.

Bên cạnh việc cúng kiếng Tam ngươn Tứ quí, Đức Bổn Sư còn dạy tín đồ thường xuyên tụng niệm tại chùa vào mùng Chín, 19 và 29 mỗi tháng, được gọi là phiên vọng U Minh. Lúc đó, Ngài đang cư ngụ tại nhà ông Trần Tịnh, nơi cũng tuân thủ đúng theo quy tắc của chùa.

Vào một sáng ngày 29, chị Hai (vợ con ông Trần Tịnh) đi chợ mua phẩm vật để dâng cúng nhưng quên mang về. Cô ấy lo lắng bị chồng và bố mẹ chồng chỉ trích, nhưng vì chợ quá xa và đường vắng vẻ nên không dám đi một mình để mua lại phẩm vật đã quên.

Bỗng chị nhớ ra, ngoài vườn có trồng một ít chuối cơm.

Chị mang dao ra khu vườn, nói lên những lời van xin và cầu nguyện tìm được một cây chuối già để sửa chữa sai sót của mình.

Tuy nhiên, chị không thể hoàn toàn hài lòng vì chỉ có một vườn chuối cơm non. Cuối cùng, chị đã đốn cây và nhớ cầu nguyện cho cây chuối trưởng thành và chín để tránh bị chỉ trích.

Sau khi đốn xong, chị chặt từng nhánh, rửa sạch và sắp xếp trên bàn theo nghi thức đã được chuẩn bị trước đó, tuy nhiên vẫn cảm thấy lo lắng và hồi hộp.

Đêm ấy, chị không hề chớp mắt. Đến khuya chị thức dậy để lo đi.

Chợ thương mại. Đầu tiên, chị đến xem những trái chuối mà chị thường xuyên quan tâm đến và cầu nguyện suốt đêm. Bất ngờ, chị rất vui mừng vì những trái chuối cơm non đó đã chín đỏ hoàn toàn!

Sáng ngày cúng kiếng xong, bà Trần Tịnh bưng chuối cho Đức Bổn Sư dùng. Ngài vừa lột chuối ăn, vừa nói:.

– Chị hãy đem ba trái chuối nầy cho con Đượm nó ăn để được sống bá niên trường thọ!

Bà Trần Tịnh không biết năm Ất Giáp là gì, nhưng vẫn tuân theo yêu cầu của Ngài, lấy ba quả chuối của Ngài để dành cho con dâu.

Sau khi chị hai Đượm đi chợ về, nghe mẹ chồng trình bày lại như thế, cô ấy đã tự nhận ra sai lầm và lên tiếng thú nhận. Tất cả gia đình đều cảm thấy ngạc nhiên khi nghe điều này.

—O O o—.

10.- GIỚI TỬU – RĂN UỐNG RƯỢU:.

Những ai tham gia Đạo Hiếu Nghĩa cũng phải tuân thủ Ngũ giới cấm, bao gồm việc không được sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống rượu. Tuy nhiên, giới tửu vẫn được xem xét theo cơ duyên của từng tín đồ và không phải là hoàn toàn bị cấm. Đức Bổn Sư thường khuyên người tu nên tránh xa rượu chè, nhưng nếu không may uống thì phải nghỉ ba ngày trước khi tụng niệm và điều trị bệnh. Đây là một cách giảm thiểu việc uống rượu cho người tu tuổi Hiếu Nghĩa tại nhà.

Như thường lệ trong phương pháp tụng niệm công phu, nếu bỏ lỡ một ngày, sẽ làm giảm hiệu quả phương pháp. Vì vậy, không thể bỏ lỡ tụng công phu vào bất kỳ ngày nào. Nếu muốn duy trì hiệu quả của phương pháp này, cần hạn chế uống rượu.

Trong số Đại đệ tử của Ngài có ông Sáu Đồn rất đức hạnh và tài giỏi trong việc chữa bệnh tà cho mọi người, nhưng ông lại mắc phải chứng nghiện rượu nặng, không thể cai được.

Một ngày nọ, người thân của ông Bảy (là bá gia của đạo H.N.) Đến thăm Đức Bổn Sư và kể rằng ông Bảy bị bệnh đã lâu, uống thuốc cũng không khỏi. Bệnh tình của ông đã đến giai đoạn nguy kịch, chỉ còn nằm trên giường chờ chết. Đức Bổn Sư đề nghị thỉnh anh Sáu Đồn đến chữa trị để ông Bảy mau khỏe lại và không chết.

Gia đình của bệnh nhân đã đến thăm ông Sáu Đồn để xin giúp đỡ. Sau khi kiểm tra và chữa trị cho bệnh nhân, ông đã lấy một cây thanh sắt từ túi đồ của mình (đây là công cụ trị bệnh của ông) và sử dụng để xoa dịu cho bệnh nhân từ đầu đến chân.

Khi gõ đến bụng, bịnh nhơn bỗng la lên: Chết tôi đi!

Ông Sáu hỏi: Mi là giống gì mà dám phá khuấy bịnh nhơn?

Hãy nói mau.

Bạch Thầy, tôi ban đầu là một chú chó tên Mực, từng bị quấy rối và giết thịt. Vì vậy, tôi đã trở lại để đòi lại công bằng!

Xin lỗi, tôi muốn rời đi. Người này đã thay đổi so với trước đây và đã tu hành, vui lòng tha cho họ. Nếu có yêu cầu, tôi sẽ yêu cầu chủ nhà đền đáp.

– Tôi chỉ cần Thầy tụng cho ba đêm Kinh siêu độ để được hóa kiếp.

– Tha cho người khỏi bịnh. Ta hứa giữ lời mi đòi hỏi.

Ông Sáu đã giữ lời hứa và cầu nguyện cho linh hồn ba đêm trong Kinh siêu độ. Thật đúng là bệnh tật của bịnh nhân giảm đi một phần chín sau khi ba đêm qua. Tuy nhiên, khi ông Sáu sử dụng rượu để xua đuổi tà ma vào đêm thứ ba, bệnh tình của bịnh nhân lại trở nên nghiêm trọng hơn trước. Ông Sáu đã thử dùng thanh sắt để thiền lại như trước đó, nhưng bịnh nhân vẫn không ngừng than van. Ông Sáu hỏi:

– Tại sao mi dối gạt ta? Còn ở lại giễu hại bịnh nhơn?

– Vì Kinh ông tụng cầu siêu cho tôi đã cháy hết rồi.

– Mi nói dối, lý do nào mà Kinh cháy?

– Tại ông uống rượu nên Kinh cháy hết!

– Ta uống rượu hồi nào?

– Hồi ông phun rượu chưa hết, lại nuốt vào bụng nên cháy Kinh ông đã tụng.

Dù Nguyên ông Sáu Đồn vẫn tuân theo lời Đức Bổn Sư và uống rượu trong thời gian điều trị bệnh, nhưng không ngờ ông lại nghiện rượu đến mức ngậm vào là “con sâu rượu” và gây hại cho sức khỏe. Vì vậy, ông phải kiêng rượu trong ba ngày để tụng Kinh siêu độ cho hồn ma chó và chữa lành hoàn toàn.

—O O o—.

11.- THỬ THẦY TRỞ THÀNH ĐỆ TỬ:.

Đức Bổn Sư sáng lập thôn ấp để giáo dục và truyền đạt tri thức cho mọi người, tại một vùng sâu vắng, không có sự cạnh tranh và xâm phạm đến quyền lợi của người khác. Mặc dù bị nghi ngờ và bị khủng bố bởi người Pháp và gây sự ganh đua cho người Miên, nhưng không lâu sau, tiếng Ngài đã được lan truyền khắp nơi, đặc biệt là trong việc chữa bệnh và cứu người.

Khi đó, tại Cái Tàu Thượng, có ông Đội Đồn Điền, tính cách kiêu ngạo và ngoan cố. Ông nghe người ta đồn về sức mạnh siêu nhiên của Đức Bổn Sư, không chỉ không tin mà còn châm chọc những người đồn đại là tin vào chuyện ma quỷ. Ông quyết định đi thử thách sức của đạo sư đó để xác định sự thật.

Ông Đội nói rằng sẽ làm. Một vài ngày sau đó, ông Đội đã tự mình leo lên núi Tượng để thử Đức Bổn Sư. Khi ông vừa bước vào cửa chùa Tam Bửu, Đức Bổn Sư đã tiếp đón ông Đội và Ngài đã mỉm cười.

– Ông được mạnh giỏi chớ? Muốn thử tôi bằng cách nào đây?

Ông Đội nghe qua thất kinh, nghẹn lời không biết phải nói sao. Đức Bổn Sư bèn nói tiếp:.

Hãy để tôi giới thiệu cho ông một công việc, ở nhà ông có thể nghỉ ngơi và ăn uống đến già mà không hết, không cần phải thử làm chicho mà không thành công!

Sau khi ông Đội Đồn Điền trở về nhà, ông đã trở thành một chuyên gia coi bói rất tài năng. Đặc biệt, khi có người đến để xin coi bói, ông sẽ quay mặt vào tường và nói không sai một lời. Tin đồn về ông lâu dần lan rộng, và mọi người đều đến tìm ông để xin giúp đỡ. Tuy nhiên, ông không nhận tiền từ bất kỳ ai, chỉ bán một số lượng nhỏ thuốc Lục Nhứt hoàn kiếm để có thể sống qua ngày.

—O O o—.

12.- GIỚI THAM – RĂN LÒNG THAM:.

Khi xây dựng ngôi chùa Phi Lai, nhiều tín đồ đã đến giúp đỡ. Đức Bổn Sư gọi một thợ rừng đến và yêu cầu anh ta đi đến núi Dài để đốn cây Cam Đàn và mang về cho chùa sử dụng. Dù chưa từng đến đó, Ngài vẫn diễn tả sơ đồ đến cây Cam ấy.

Khi người thợ đến tới vị trí cây Cam đó, ông đã rất ngạc nhiên khi thấy một cây Cam Đàn rất to, không biết đã phát triển từ khi nào.

Đột nhiên, ông ta bị ám ảnh bởi lòng tham, suy nghĩ rằng nếu chặt cây đó và bán riêng cho gia đình thì sẽ kiếm được nhiều tiền. Sau khi suy nghĩ như vậy, ông thợ trở về và nói với Đức Bổn Sư rằng cây đó đã bị người khác chặt từ lâu. Nghe ông ta nói như vậy, Ngài vẫn giữ bình tĩnh và không nói gì.

Khi ông thợ trở về nhà, ông rủ thêm các đồng nghiệp để cùng hạ cây đó để đóng ghế tủ và bán riêng. Khi đến đó, họ cùng nhau hạ cây Cam Đàn đó. Thật không may, sợi dây chằng đã giựt vào cây và đập vào ông thợ, khiến ông bị dập xương và qua đời.

Các đồng nghiệp mang thi thể ông thợ về nhà, gia đình ông ta đau buồn và xóm làng cũng rơi vào cảnh vỡ lòng. Một người tìm đến Bổn Sư tự sự và được Ngài bảo: “Hãy mang thi thể đến đây, tôi sẽ giúp đỡ.” Mọi người nghe thấy rất kỳ lạ, vì ông thợ đã qua đời nên không thể cứu được. Tuy nhiên, họ không dám phản đối.

Khi đưa thây ông thợ đến chùa, Ngài yêu cầu tín đồ đi hái lá cây Cù Dầu từ miền núi để đập nát và phủ lên xác ông thợ trước khi đem lên xuồng và đổ nước ngập xác nạn nhân. Sau đó, Ngài nói rằng chỉ cần một vết thẹo răn nó sẽ đủ. Ông thợ rừng được hồi sinh, nhưng nửa thân mình bị tê liệt và không thể cử động. Từ đó, ông ta chỉ có thể sống để báo tin cho vợ con.

—O O O—.

13.- LÀM THẦY ĂN THỊT TƯỚNG:.

Ông Dươn là một vị cao thủ của Đức Bổn Sư, được Thầy truyền phép đi khắp nơi để chữa bệnh cứu người. Một ngày, ông Dươn cùng với Ngài đến tỉnh Định Tường để chữa trị một bệnh tâm thần, vì ở vùng này có rất nhiều bệnh tâm thần và các bậc Thầy phù, Thầy pháp đều không thể đối phó được.

Khi gia chủ đón ông Bảy đến, ông thực hiện nghi thức trừ tà trước khi yêu cầu gia chủ tìm một củ măng tre. Ông Bảy sử dụng củ măng làm cốt tướng để chữa bệnh và sau ba ngày, bệnh đã được chữa lành. Ông Bảy cảm ơn gia chủ bằng cách cúng trả lễ bằng một con gà. Củ măng được giữ lại và hầm cùng con gà.

Sau khi ăn uống xong, ông Bảy rời khỏi nhà chủ để trở về núi. Trên đường đi, không có sự cố gì xảy ra. Tuy nhiên, khi ông Bảy đến đầu lộ Vĩnh Thông (cách núi Tượng khoảng 4 cây số), ông bị đau bụng dữ dội và không thể tiếp tục đi nữa. Người nhà của ông phải đưa ông đến chùa. Khi đức Bổn Sư xuất hiện, ông ta nhìn ông Bảy với vẻ phiền muộn.

– Cơ khổ không, anh Bảy trị bịnh giỏi quá, dám ăn tới thịt tướng. Tại sao không trị bịnh cho mình?

Mặc dù Ngài nói như vậy, nhưng ông Bảy Dươn vẫn nói một cách không trung thực rằng: “Xin lỗi mọi người, vì tôi chưa biết cách giữ giới hạn”. Sau khi Ngài nói xong, ông Bảy Dươn cảm thấy khỏe lại ngay lập tức. Ông đứng lên và cảm ơn Ngài vì đã cứu mạng mình, và hứa sẽ không tái phạm.

—O o O—.

14.- MỘT BÀI THƠ NHIỀU CHỮ ”BẤT”:.

Một năm vào tháng 9 âm lịch, lũ lụt nước đến chân núi. Người theo đạo Thiên Chúa đến thờ cúng và nhận phước từ giáo pháp, sử dụng ghe thuyền để đi đến chân núi dễ dàng.

Trong danh sách này có một người tên là Hương, quê ở Cần Thơ. Nghe đồn trên núi Tượng có một người Sư đang truyền bá một giáo thuyết phù hợp với tâm linh của mọi người và giúp chữa khỏi nhiều bệnh nan y. Ông Cả rất tôn kính, nhưng cũng không dễ tin, ông sắp đến thử một lần để kiểm chứng.

Khi tàu của ông tới núi, ông đã chuẩn bị trang phục kỹ càng để đi thăm chùa lạy Phật và mang theo một chiếc hộp có 3 lớp để tặng cho Đức Bổn Sư. Trước khi đi, ông đã kiểm tra lại chiếc hộp một lần cuối cùng trước khi đến chùa. Sau khi chủ nhà hỏi thăm xong, Đức Bổn Sư đã trả lời với sự ứng khẩu và nghiêm túc.

Bất Trường an bất cố hương,.

Bất Sĩ bất nông bất công thương.

Phú quí hữu tình giai bất bất,.

Bất cầu danh lợi bất cầu thương.

Sau khi Ngài đã hoàn thành viết bài thơ, Ngài cười nói với ông Cả rằng: “Tôi đã sử dụng rất nhiều từ “Bất”, trong khi ông chỉ có một từ đó. Hãy cho tôi thử sức với chữ “Bất” của ông đi”.

Sau khi nghe Ngài nói xong, ông Cả đã quy y thọ giáo và lạy Ngài. Ông mới nhận ra rằng trong ngăn hộp thứ ba của mình có một chữ “Bất” được ông vẽ và tạo ra để kiểm tra Đức Bổn Sư.

—O O o—.

15.- CHUYỆN ĐI ĐẦU THAI:.

Ngoài giờ dạy đệ tử, ngoài các buổi lễ cúng, Đức Bổn Sư thường tập Thiền định. Mỗi khi Ngài tập Thiền định thì chỉ còn một cơ thể cứng đơ, hơi thở rất nhỏ. Sau khi Ngài tỉnh lại thì có nhiều điều kỳ diệu để giáo dục tín đồ. Vì vậy, người ta thường gọi Ngài là “Ông Năm Thiếp”.

Một ngày nọ, một người theo đạo xin Ngài dẫn dắt đi đến Thiên Đường. Ngài đã đưa hồn người đó rời khỏi thân xác và đi đến một ngã ba. Ngài hướng dẫn hồn người đứng đó chờ để Ngài nói chuyện với Diêm Vương. Người theo đạo đã tuân theo và đứng đợi tại ngã ba. Bất ngờ, người này đã thấy năm cô gái xinh đẹp đi qua và đã chạy theo để trêu đùa. Năm cô gái bèn rủ người theo đạo đi chơi. Khi đến một nơi, năm cô gái dừng lại và người theo đạo cũng đến đó. Bỗng từ sau lưng, có người đẩy người theo đạo vào năm cô gái.

Khi Đức Bổn Sư rời đi, người tín đồ kia vẫn nằm trong tình trạng bất động như một xác chết. Trái tim đã ngừng đập, ngực chỉ còn ấm áp một chút. Gia đình ông ta khóc lóc đau buồn với Đức Bổn Sư. Nhưng Đức Bổn Sư vẫn bình thản nói: “Ở xóm trên có một con heo nái mới sinh ra một bầy heo con, trong đó chỉ có một con đực. Vậy anh chị hãy đến đó mua được con heo đực ấy, bất kể giá nào cũng phải mua.”

Gia đình ông ta vâng lời và đi thẳng đến khu phố trên, đúng như lời Ngài nói. Chủ nhà có một con heo nái mới sinh một bầy heo con, gồm năm con cái và một con đực. Ông chủ heo muốn giữ lại để lai giống, vì vậy không bán. Gia đình của nạn nhân năn nỉ và kể rõ về tình hình gia đình, thêm vào lời dạy của Đức Bổn Sư, khiến ông chủ heo không thể không bán con heo đực.

Khi mang con heo về, Ngài khuyên đưa con heo tới gần xác nhân vật heo để chết đi. Sau đó, trong chốc lát, người đó tỉnh lại và tuyên bố một cách vui vẻ và to rằng:

– Người ta đang đi chơi vui quá, tại sao kêu triệt về đây chi mà gấp vậy?

Sau khi chỉ xác con heo và kể chi tiết từ đầu đến đuôi, người đó mới hiểu ra sự thật và kể về chuyến đi chơi cùng năm cô gái cho đến khi anh ta được người nhà gọi tỉnh dậy. Anh ta đã vào chùa thờ Đức Bổn Sư để cảm tạ vì đã được cứu mạng.

—O O o–.

16.- Ý NGHĨA CHUYỆN ĐỜI TỚI:.

Một ngày kia, Đức Bổn Sư gọi đệ tử của mình, tên là Hai Lộc, đến và nói rằng: Khi con đường xung quanh núi Tượng được hoàn thành và xe cộ được thông thương, đó sẽ là thời điểm cuộc đời kết thúc!

Sau khi Đức Bổn Sư viên tịch, vào năm Tân Mão (1891), quyền lực Pháp đến đây xây dựng đường vòng quanh núi Tượng xong. Ông Hai Lộc đứng ở ngã ba đường, nhìn xe cộ qua lại và chấp tay niệm ba tiếng Phật hiệu. Ông nói với những người xung quanh rằng khi chị Năm (gọi Đức Bổn Sư) còn sống, Đức đã dặn tôi rằng đời sau khi đường vòng quanh núi được hoàn thành. Trở về nhà, ông Hai ngủ một giấc ngàn thu suốt đêm đó!

—O O o—.

Điều khác biệt là vào một ngày nọ, Đức Bổn Sư đã gọi ông Hương – người tín đồ – và thông báo rằng sắp tới, Hội Tề ở Năng Gù sẽ mời ông quay trở lại vị trí Xã trưởng (trước đây ông đã từng giữ chức vụ này tại đây). Vài ngày sau đó, ông Chủ Sách đã nhận được thông báo chính xác như lời Đức Bổn Sư đã nói.

Sau khi ông chủ Sách bị trát đòi, ông ta đã thuật lại câu chuyện của mình và yêu cầu Ngài chỉ dạy cho công việc sắp tới. Ngài đã khuyên ông ta rằng: “Hãy đi làm việc với người khác, nhưng đừng quên trở lại đây khi hoàn thành để tránh bỏ lỡ cơ hội trong tương lai”.

Chủ cửa hàng Sách tuân thủ yêu cầu làm việc đến khi hết hạn hợp đồng mà vẫn giữ trong lòng lời dặn của Đức Bổn Sư, tuy nhiên, khi thấy tình hình vẫn ổn định, ông quyết định gia hạn thêm ba năm.

Không ngờ ông mới nhận được tờ cử khóa thứ hai được vài ngày thì ông bị bệnh nặng và qua đời! Điều này cho thấy sự quan trọng của câu nói của Đức Bổn Sư rằng cuộc đời của chúng ta là cuộc đời của chính chúng ta, không phải là sự thay đổi của thế giới như chúng ta thường nghĩ.

—O O 0—.

17.- ÔNG CẢ ”CỌP”:.

Sau khi hoàn thành việc xây dựng Đình PHI LAI, Đức Bổn Sư cho xây hai ngôi miếu nhỏ ở phía trước cửa Đình. Miếu bên trái được thờ cúng Ngũ Hành, còn miếu bên phía trước được dành để thờ Bạch Hổ Sơn Quân.

Ngũ Hành là tôn giáo thờ cúng Thần Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Riêng Bạch Hổ Sơn Quân có điều đặc biệt hơn so với các đình thần khác, mỗi năm khi cúng Kỳ Yên, Ngài viết Tờ Cử để đưa cho Hương Cả. Người dân thường gọi Ngài là Ông Cả Hổ!

Ngài đã mang Tờ cử này đến dâng lên ông Hương Cọp cùng với quà tặng. Tuy nhiên, một số tín đồ của Ngài có thể không đáng tin cậy. Trong lễ cúng Kỳ Yên, có người thấy dấu chân của con cọp và các vật phẩm quà tặng xung quanh miếu bị mất. Mỗi hai năm, công cử được tiến hành như vậy và sau đó trở thành một truyền thống. Sau hai năm, gia đình của ông Hương Cọp sẽ được đổi Tờ cử cho ông Hương Hổ. Điều đặc biệt là khi ông Hương Cọp nhận được Tờ cử mới, ông sẽ trả lại Tờ cử cũ.

Sau khi Đức Bổn Sư viên tịch, những người quyền cao vẫn theo đuổi Ngài bằng cách tạo các văn kiện và thực hiện như trước đây, nhưng ông Cọp luôn từ chối nhận Tờ cử và các đồ vật liên quan.

Sau khi đọc câu chuyện này, có nhiều người cho rằng đó là một điều huyền thoại khó tin. Tuy nhiên, không có gì là lạ khi từ khi Đức Bổn Sư phong cho cọp Bạch làm Hương Cả đến nay đã gần 100 năm, không có một vụ Hổ Lang ác thú nào đã xảy ra trong vùng 7 núi nói chung và đặc biệt là tại núi Dài, núi Tượng. Ngoài ra, ở xã Ba Chúc, chỉ có chức Hương Chủ, trong khi vị Hương Cả vẫn được giữ nguyên cho Hương cả Cọp!

—O O o—.

18.- NÚI TƯỢNG KHÔNG CÓ CHIM SẺ:.

Trước khi Đức Bổn Sư viên qua đời, chim Se Sẻ bay tung tăng khắp nơi, gây ra tình trạng ô uế và xây tổ để đẻ con trong chùa miếu bất kể ở đâu. Những đệ tử than phiền về loài chim quái ác này. Ngài đã nói với Bá gia rằng: Đừng lo lắng, tôi sẽ cấm chúng không được bay đến núi Tượng nữa!

Sau khi Ngài qua đời, mọi người đều cảm thấy bất ngờ, vùng núi Tượng không bao giờ thấy được một con chim Sẻ, và cho đến hiện tại, núi Tượng vẫn không có loài chim Sẻ nào.

Dựa trên thực tế, một số người cho rằng điều này là khó tin hoặc chỉ là truyền thuyết, bởi loài chim này thường đến những nơi có lúa gạo, còn vùng núi lại ít có kho chứa lúa gạo, vì vậy nó không đến cũng không có gì lạ.

Thực tế là như vậy, tuy nhiên nếu ai chú ý thì sẽ bắt gặp loại chim này ở khắp các khu vực núi, đặc biệt là ở núi Dài, chỉ cách núi Tượng không đến một dặm ngàn, cũng không thiếu loại chim Sẻ.

Được hai năm trước, một ngày chim Sẻ đã đến đông đúc ở đây, nhưng sau đó không lâu, chúng đã bay đi hết mà không có con nào ở lại trên núi Tượng. Các tín đồ của Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã thảo luận rằng “Có thể đây là dấu hiệu của Tổ đã đi và sẽ trở về?”

–O O o—.

19.- CHUYỆN CỦ NỪNG:.

Khi Đức Bổn Sư chỉ dẫn những tín đồ đến mở rộng thôn An Thành, họ phải đi qua khoảng 7 cây số đường rừng từ núi Tượng đến đây.

Khi đi giữa đường, Ngài đã nhận ra rằng các tín đồ đang đói khát, và đã đề nghị rằng tại sao các anh chị không thu hái củ Nừng nướng để ăn và giảm cơn đói (loại củ Nừng thường mọc ở rừng núi và có hình dáng giống như khoai ngọt).

Các đệ tử cảm thấy lạ khi biết rằng loại củ Nừng rừng này có tánh rất độc ngứa và còn độc hơn củ môn nước, ngoài ra chất lượng của nó rất kỵ lửa. Để ăn được củ này, người ta phải nấu cho thật chín và vắt và đạp cho ráo nước, nấu đi nấu lại nhiều lần. Nếu nướng trực tiếp trên lửa, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, các đệ tử không dám cãi lời Ngài và vẫn đốt lửa để nướng củ Nừng.

Khi Nừng chín, mọi người thường còn ngại ngần, nếm thử từng miếng nhỏ, sau khi thử thấy hương vị tuyệt vời, chậm rãi ăn đến khi no bụng, không gặp phải sự cố gì.

Một trong số những người thấy Nừng không còn kinh hãi nữa, đã mua về một bộ nướng để nuôi con ăn. Thật không ngờ, khi ăn vào, đứa trẻ bỗng trở nên câm lặng. Người đàn ông này đã hoảng sợ và chạy đến tìm sự giúp đỡ từ Đức Bổn Sư. Ngài vui vẻ đưa cho ông ta một tô nước phép thuật và bảo ông ta đưa cho con uống, sau đó tất cả sẽ ổn. Người đàn ông đưa tô nước về cho con uống và kết quả thật đúng như lời Đức Bổn Sư.

Sau vài ngày, một số người cùng đi với ông bữa trước đùa rằng: Tại sao anh không nướng Nừng để cho con anh ăn tiếp?

Ông nầy bèn trả lời:.

– Không dám! Nừng bây giờ kỵ nước rồi!

—O O o—.

20.- LỜI DẶN SAU CÙNG:.

Trước khi Đức Bổn Sư viên vĩnh biệt, Ngài đã gọi một số tín đồ cần đến và nhắc nhở rằng sau khi Ngài ra đi, họ nên mang xác thể của Ngài đến núi Tượng (lúc đó Ngài đang ở các thôn bên núi Dài). Vì trong tương lai, chỉ có núi Tượng được bảo tồn như một di tích lịch sử quan trọng, còn núi Dài là nơi đầy tranh đấu, không yên ổn cho bất kỳ ai.

Sau nhiều thập kỷ kể từ khi Ngài ra đi, núi Dài vẫn đang bị giặc xâm lược hoành hành như Ngài đã cảnh báo. Mọi người đều sống trong cảnh khốn khó và không bao giờ được yên ổn.

—O O o—.

21.- QUẬT MỒ THÂN SINH THẦY CAI TỔNG:.

Trong số các Đại đệ tử của Đức Bổn Sư có ông Hà Trinh (là Tằng Tổ của người biên tập cuốn sách này) được người đời thường gọi là ông Tám. Ông là một trong những vị được Ngài truyền dạy Bí pháp để đi khắp nơi chữa bệnh và cứu người.

Ông Tám trở về quê nhà ở Thốt Nốt (Long Xuyên) để chữa trị nhiều bệnh nan y, đặc biệt là chứng bệnh điên và đau tà. Với các bệnh nhẹ, ông Tám chỉ sử dụng một cây roi dâu để đập vào và bệnh sẽ mất ngay. Với các bệnh nặng hơn, ông sử dụng một chiếc chiếu bó bệnh và thả nó trôi theo dòng nước. Khi chiếu bó bệnh trôi xa khoảng 500 thước, ông Tám sẽ thực hiện một phép trục để đưa nó trở về. Tiếng đồn lan truyền và nhiều bệnh nhân khác nhau đã đến để được ông Tám chữa trị.

Khi đang làm việc, ông Tám bất ngờ quyết định băng qua sông (một nhánh của sông Hậu rộng khoảng 300 thước) để đến Bảy Núi. Vào thời điểm đó (khoảng năm 1888), đường đi chưa được phát triển và khu vực đó vẫn là rừng bụi đầm lầy. Từ Thốt Nốt đến núi Tượng có khoảng hơn 100 cây số đường rừng. Đến chiều hôm đó, người quen của ông Tám đã gặp ông tại núi Tượng. Không ai biết ông Tám đi vội vã đến núi Tượng có phải do nhớ núi hay lý do khác.

Chính bà Tám cũng không biết chừng nào ông đi, và chừng nào về.

Ông Tám rất hiếu với cha mẹ, khi cha mẹ còn sống thì ông luôn chu đáo phục vụ cơm nước, sau khi cha mẹ mất ông luôn cư tang và dành tình cảm hiếu thảo suốt cuộc đời, sống giản dị và khiêm tốn, luôn kiêng kị ăn chay và sống đơn giản.

Một ngày nọ, một người thân của Cai Tổng hiện tại (ở khu vực nhà ông Tám) đưa ông Tám điều trị cho Cai Tổng.

Sau khi được chủ khách chào đón, ông Tám đến thăm toà nhà sang trọng của Thầy Cai Tổng. Ông ta đốt một ngọn đèn sáp và lấy tờ vàng bạc để kiểm tra bệnh tình của Thầy. Sau khi kiểm tra xong, ông Tám cho biết rằng Thầy Cai đang mắc phải bệnh nan y và nếu không giải quyết được một vấn đề thì rất khó để chữa khỏi bệnh.

Thầy Cai Tổng không hiểu làm sao, bèn hỏi ông Tám:.

Tại sao ông gọi đó là một sự cố? Dầu cho phải tốn kém hoặc gặp khó khăn thế nào, tôi vẫn chấp nhận, miễn là không bị bệnh thì được rồi.

Để chữa bệnh cho Thầy, chúng ta cần đưa ông thân Thầy lên để căn bệnh được chữa trị. Nếu không, tôi sẽ phải rời đi. Ông Tám giải thích.

Thầy Cai Tổng tái mặt hỏi gặn ông Tám:.

– Tại sao phải đào mồ cha tôi ? Thầy nói rõ lại nghe coi?

Bởi vì khi cha của Thầy qua đời, người ta đã quên lấy tiền quan đặt trên bụng ông khi đưa ông vào quan tài. Giờ đây, vì đã đúng thời điểm, Thầy bị đau ở vị trí quan tiền đó! (Tiền ta là đơn vị tiền tệ xưa, một quan được tính là 40 đồng tiền ta).

Thầy Cai Tổng hỏi gằn:.

– Thầy dám bảo đảm đúng như vậy không?

Nếu không thì tôi chấp nhận trách nhiệm. Bởi vì tôi vẫn ở đây để chứng kiến sự hủy diệt này, không có lí do gì để tôi rời đi. Ông Tám đáp lại.

Gia đình ông Tám rất bất ngờ khi nghe ông cam kết như vậy, nếu không thực hiện được, ông sẽ chịu trách nhiệm không thể đoán trước được hậu quả. Thực sự là một việc làm rất nguy hiểm khi cam kết đào mộ của Thầy Cai Tổng đương thời.

Một sự kiện tập thể đập phá tượng đá của cha Thầy cai Tổng đã kéo dài rất lâu (vì tượng được xây dựng bằng vật liệu rất chắc). Sau khi đập phá xong, họ đã mở nắp quan tài. Thật đáng ngạc nhiên, quan tiền vẫn nằm trên bụng của người chết, tuy nhiên tiền kẽm đã bị mòn mất độ bóng. Tất cả mọi người đều tỏ ra bất mãn!

Kết quả là, tình trạng bệnh của Thầy Cai đã giảm dần sau đó. Thầy Cai muốn thưởng cho ông Tám một khoản tiền lớn, nhưng ông Tám đã từ chối và chỉ khuyên Thầy Cai nên làm việc tốt để tránh các hậu quả tiếp theo.

—O O o—.

22.- PHÁ ÁM CHO NGƯỜI TÍN ĐỒ:.

Vào ngày rằm tháng 5 năm Kỷ Sửu (1889), Đức Bổn Sư truyền cho tất cả đệ tử nam lẫn nữ rằng họ phải nỗ lực học thuộc mặt chữ 24 bộ Kinh, để có một ngày Ngài có thể mở trường thi.

Tất cả thiện tín nghe vậy thảy đều lo học đêm ngày.

Trong những người theo đạo của Ngài, có bà Năm Dội cũng cố gắng học hỏi liên tục, tuy nhiên tính cách của bà khá đen tối, khiến bà quên những điều đã học. Cuối cùng, bà không thể nhớ được bất kỳ từ nào. Người dạy cũng có ý khinh khi không tiếp tục giảng dạy.

Một ngày học xong, các tín đồ đã về nhà, chỉ có bà Năm ở lại để tự học. Bà cầm chổi ra quét sân chùa và nhớ lại thời gian bị người đùa giỡn vào đêm tối, khiến bà không khỏi rơi nước mắt khi quét sân.

Đức Bổn Sư trong chùa bước ra nhìn thấy:.

– Sao chị Năm chưa về ? Ủa, sao chị Năm lại khóc?

– Bạch Thầy, trò buồn cho thân mình quá ngu tối, học hoài không thuộc, nên tủi thân mà khóc.

Đức Bổn Sư bèn an ủi bà Năm:.

– Thôi, chị đừng buồn nữa, để tôi dạy cho.

Ngài chỉ dạy bà Năm Dội trong vài phút và bà đã có thể đọc thuộc các kí tự không chỉ theo chiều dọc mà còn theo chiều ngang và ngược của trang Kinh.

Vào ngày 19 của tháng, người Cư sĩ đã tụ họp tại Vọng U minh để đổi phiên. Các Đại đệ tử đã đến đầy đủ và Ngài bảo bà Năm dùng dùi mõ để hướng dẫn tụng kinh cho Cư sĩ. Bà Năm đọc kinh một cách trôi chảy và không mắc lỗi gì cả. Sau khi cúng, bà còn tụng một quyển kinh ngược lại, khiến cho các Cư sĩ rất ngạc nhiên!

Đức Bổn Sư thông báo rằng: Kỳ thi này được xếp hạng nhất bên phái Nữđậu. Ngài cũng khuyến khích các tín đồ:

– Anh chị rán cố gắng, bằng không sẽ còn rớt nhiều.

Vì Chúa biết rằng hiện nay đa số tín đồ chỉ quan tâm đến hình thức và nội dung hình ảnh hơn là tâm hồn và tư duy. Tuy nhiên, Chúa muốn nhắc nhở tín đồ rằng quan trọng hơn cả là trì tâm và tâm niệm. Vì thế, Chúa đã truyền cho chúng ta bài kệ sau đây để chúng ta suy ngẫm và răn bảo.

Phật dạy lý chơn không,.

Vì sợ người chấp có.

Bằng người lại chấp không,.

Như chụp Thỏ buông Ó.

Người chấp vô thường tướng,.

Phật nói hữu thường tâm.

Chẳng dè phương tiện pháp,.

Ao xuân hiện lỗi lầm.

Ta nay công chẳng vụng,.

Phật tánh hiện rõ ràng.

Chẳng nhờ Sư chỉ giáo,.

Không đắc đạo cao thâm.

—O O o—.

B- PHẦN HIỆN TẠI.

I.- NHỮNG DI TÍCH VÀ GIÁO LÝ ĐƯỢC LƯU TRUYỀN.

Sau khi Đức Bổn Sư viên tịch, Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa không được phổ biến rộng rãi hơn, tuy nhiên tín đồ vẫn duy trì căn bản hành đạo và sự tín ngưỡng, giáo huấn của Ngài vẫn được theo đuổi.

Tuy nhiên, không thể tránh khỏi một vài mâu thuẫn nhỏ của các ông Trò, ông Gánh. Những mâu thuẫn giữa các ông Trò tuy không rõ ràng bằng hành động, nhưng sự đồng thuận không được đồng đều như thời Đức Bổn Sư còn sống.

Chưa có ai biết tại sao sau khi Đức Bổn Sư viên tịch, nghi thức tôn giáo ở mỗi thôn lại có những điểm khác nhau? Nếu hỏi những người có trách nhiệm tại từng thôn, thì nghe được câu trả lời tương tự nhau.

Những điều đó không thể được sửa đổi trong tương lai, mà phải tuân thủ những lời dạy của Đức Tổ từ thuở còn sống. Ngài đã giáo huấn mỗi thôn xóm một cách khác nhau đấy!

Sau khi nghe câu trả lời đó, có lẽ không ai có lý do để hỏi thêm. Theo những gì được các ông truyền đạt, Đức Tổ đã dạy dỗ theo từng phong cách của từng địa phương. Tuy nhiên, chúng tôi có một số nghi ngờ về tính không đồng nhất của một tôn giáo và nguồn gốc của nó, được truyền bá trong cùng một thời gian. Chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm để xác minh điều đó.

1.- NHỮNG DI TÍCH CHÙA MIỄU XƯA VÀ NAY:.

Như đã đề cập ở trước đó, Đức Bổn Sư chỉ dẫn tín đồ đến núi Tượng khai hoang để truyền bá đạo và thành lập 4 thôn: An Định, An Hòa, An Thành và An Lập.

Khi đến khu định cư, người ta thường đặt Chùa miễu làm việc đầu tiên để cung cấp nơi thờ phượng, lưu trữ kinh sách và cầu nguyện. Ngoài ra, Chùa miễu còn là nơi tập trung của tín đồ và truyền bá giáo lý.

Theo thứ tự thời gian, bắt đầu từ ngày 19 tháng giêng năm Bính Tý (1876) khi Ngài đến Núi Tượng và kết thúc khi Ngài qua đời.

13 tháng 10 năm Canh Dần (1890). Trong 14 năm đó, Ngài thiết lập được những ngôi chùa miễu sau đây:.

– Ngày 19 tháng 11 năm Đinh Sửu (1877) dựng Đình và PHI LAI TỰ.

– Ngày 20 tháng 02 năm Kỷ Mão (1879) dựng ngôi THANH LƯƠNG TỰ.

– Ngày 01 tháng 06 năm Canh Thìn (1880) dựng ngôi MÃ CHÂU MIẾU.

– Ngày 19 tháng 06 năm Canh Thìn (1880) dựng ngôi SƠN THẦN MIẾU.

– Ngày 15 tháng 02 năm Nhâm Ngũ (1882) dựng ngôi PHỔ ĐÀ TỰ.

– Ngày 26 tháng 06 năm Nhâm Ngũ (1882) dựng ngôi TAM BỬU TỰ.

– Ngày 29 tháng 10 năm Quí Mùi (1883) dựng ngôi CHÂU LINH TỰ.

– Ngày 19 tháng 01 năm Giáp Thân (1884) dựng thêm PHI LAI TỰ.

– Ngày 30 tháng 04 năm Giáp THÂN (1884) dựng ngôi LONG CHÂU TỰ.

– Ngày 09 tháng 06 năm Giáp Thân (1884) dựng ngôi LINH BỬU TỰ.

– Ngày 29 tháng 8 năm Giáp Thân (1884) dựng ngôi TÚ DƯƠNG MIẾU.

– Ngày 19 tháng 10 năm Ất Dậu (1885) dựng ngôi VẠN BANG MIẾU.

– Ngày 19 tháng 04 năm Bính Tuất (1886) dựng ngôi MỘC HƯƠNG (Phi Lai).

– Ngày 19 tháng 02 năm Mậu Tý (1888) dựng ngôi MIỄU BÀ.

– Ngày 16 tháng 04 năm Kỷ Sửu (18889) dựng ngôi TAM BỬU TỰ (An Hòa).

– Ngày 27 tháng 04 năm Kỷ Sửu (1889) dựng ngôi KIM TRA, MỘC TRA.

Chúng tôi chỉ tập trung vào các ngôi chùa miếu lớn, còn những ngôi miếu nhỏ được phân bố khắp 4 thôn rất nhiều, chưa thể liệt kê hết ở đây. Các ngôi chùa miếu đã được đề cập ở trên, chỉ một số ít vẫn giữ nguyên bản sắc của Ngài khi thiết lập, còn nhiều đã bị giặc Pháp và Miên phá hủy, phải được xây dựng lại đến 3 lần!

Quan sát thời gian xây dựng các ngôi chùa miếu, chúng ta không tránh khỏi thắc mắc, tại sao có những năm có nhiều công trình được xây dựng (như năm 1884) nhưng lại có những năm không có bất kỳ ngôi chùa miếu nào được xây dựng?

Sự kiện được đề cập không phải do Đức Bổn Sư chọn ngày tốt để xây dựng, hoặc do vật liệu thiếu, mà đó là thời điểm gặp phải khó khăn và nguy hiểm. Nếu không bị giặc khủng bố đốt cháy chùa miếu, thì cũng bị chúng theo dõi và bắt Ngài. Một số tín đồ trốn chui, còn một số khác lại lo bảo vệ Ngài, không có thời gian để quan tâm đến việc xây dựng chùa chiền.

2.- TỔ CHỨC HỘI CHÙA VÀ PHÂN PHỐI TRÁCH NHIỆM.

Sau khi Đức Bổn Sư viên qua đời, các vị quan trọng của ngài đã hợp tác thành lập một tổ chức để bảo vệ chùa miếu. Mỗi thành viên trong tổ chức được phân công nhiệm vụ rõ ràng để đảm bảo không có trường hợp “nhiều người không đóng cửa chùa”.

Vì vậy, Hội Lục Viên đã tuyển chọn sáu người có trách nhiệm quản lý tất cả các chùa miếu, gồm một Ban Quản Tự cho mỗi chùa miếu. Ban Quản Tự này bao gồm ba vị: Thủ Tự (ông Từ) chịu trách nhiệm cho việc quản lý hương khói, dọn dẹp chùa miếu, chào đón khách thập phương, chuẩn bị các lễ lộc và cúng cơm. Vị Thông Tin chịu trách nhiệm cho mọi chi tiết lễ nghi, thông báo và hướng dẫn cho tín đồ, phối hợp với Thủ Tự trong các ngày cúng Tam ngươn Tứ quý. Nhiều vị Cư sĩ tham gia vào các nhiệm vụ như tập trung vào công việc tụng niệm, sớ điệp cúng kiếng và kiểm soát toàn bộ công việc của chùa miếu. Nếu có bất kỳ vấn đề quan trọng nào, các vị này phải thông báo ngay lập tức và trình bày cho Hội Lục Viên để có thể sắp xếp và lo liệu kịp thời.

3.- TRUYỀN NHÂN HAY CÁC ÔNG TRÒ, ÔNG GÁNH KẾ TIẾP:.

Tôn giáo Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương nói chung không có vấn đề truyền thọ Y Bát giống như Thiền tông. Thực tế, không có Y bát trong Phật pháp. Từ Đức Phật Thầy Tây An đến Đức Bổn Sư, cách truyền thọ Phật pháp phụ thuộc vào hoàn cảnh, tâm thành, khả năng và đức hạnh của người tín đồ. Không có ai có quyền quyết định vận mạng của Đạo, tất cả tín đồ đều được tiếp tục truyền bá giáo lý Học Phật Tu Nhơn của Phật Giáo BSKH.

Tuy nhiên, những người theo đạo đó cần phải là những người tôn kính Tứ Đại Trọng Ân, đọc sử Thập Điều và thực hiện các nghi thức phụng hành của Đạo.

Dựa theo bộ Siêu Thăng kinh, đã liệt kê danh sách các vị Cao đồ và Bá gia đã từng trải qua gian khổ với Đạo pháp… Khi Ngài còn tại thế, tổng số là 360 người. Trong đó được phân loại thành nhiều hạng mục: 216 người tận tâm với Đạp pháp, 72 người là Vật Sĩ Sư (như Ưu Bà Tắc của nhà Phật), 36 người là Nữ Bồ Tát (như Ưu Bà Di của nhà Phật), 36 người là Cô Phòng Niệm (như Nữ tu sĩ đã ly gia cát ái). [Một trong các kinh của Bộ Kinh Bàn Đào, kinh Siêu Thăng có ý nghĩa về câu siêu và trì niệm để cứu độ vong linh của các đấng tiền nhân; được lập ra danh sách những người tín đồ trung kiên của đạo Hiếu Nghĩa].

Trong số 360 danh vị được liệt kê trong Siêu Thăng kinh, hiện nay thường được đọc danh sách trong các ngày Vía và ngày cúng lớn tại các chùa miếu, nhưng không được tụng niệm tại nhà riêng. Công chúa Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã lựa chọn 360 danh vị này và ghi tên vào “Bảng Phong Thần”.

Sau khi Đức Bổn Sư viên tịch, những đệ tử có uy tín và lập căn cứ tại 4 thôn đã thành lập và thay thế Ngài để giữ gìn giáo pháp. Ông Gánh được giao trọng trách trông nom việc Đạo thay Thầy và ông cũng từ trong hàng ngũ đệ tử mà ra. Dưới đây là danh sách các đệ tử (không theo thứ tự):.

– Ông Trần Tịnh, pháp hiệu là Thiện Căn.

– Ông Ngô Tự Nhiên, pháp hiệu là Phụ Tăng.

Chánh Hưng là tên gọi khác của ông Nguyễn Thập, Nguyễn Pháp, Nguyễn Huấn và Nguyễn Qui, tất cả đều có cùng Pháp hiệu là Nguyễn Siêu Phàm.

– Ông Nguyễn Mầu pháp hiệu là Thượng Tín Hạ Thành.

– Ông Tư Tời, pháp hiệu là Chí Thành.

– Ông Nguyễn văn Tàng pháp hiệu là Viễn Đạt Sở Thành.

– Ông Nguyễn Nhựt.

– Ông Nguyễn Thanh Liễu tức là ông Câu (?) Củi pháp hiệu Tín Thành.

– Ông Lương Nhàn.

– Ông Ngô Đời tục gọi là Nguyễn Nhiều.

– Ông Hương Hào Kim.

– Ông Nguyễn Vui.

– Ông Nguyễn Văn tức là Hương Chủ Sách.

– Ông Lê Dưỡng còn gọi là Đình Dưỡng.

– Ông Phạm Tồn.

– Ông Nguyễn Dươn.

– Ông Bộ Phước tức là Nguyễn Lệ.

– Ông Chủ Triệu.

– Ông Hai Đăng pháp hiệu là Chân Tăng.

– Ông Cao Đồn pháp hiệu Chánh Quả.

Những người có căn cư tại 4 thôn An Định, An Hòa, An Thành và An Lập là người giữ giềng mối Đạo. Ngoài ra, còn có nhiều người khác được Đức Bổn Sư phái đi khắp nơi truyền Đạo và trị bệnh cứu đời, nhưng chúng tôi chưa tìm thấy tổng số. Riêng những người cao đồ đã được đề cập trên, khi qua đời, nếu có con cháu nào rành nghi thức hành đạo và tuân theo qui tắc của Đạo thì họ sẽ thay thế vị trí Trưởng Gánh. Nếu không, tín đồ trong Gánh đó sẽ xem xét trong hàng Cư sĩ để tìm người đầy đủ Đức Hạnh và Đạo pháp để thay thế. Quy trình này được kế tục cho đến ngày nay. Những người giữ giềng mối Đạo sau này, mặc dù không phổ biến Đạo pháp xa hơn, nhưng họ cố gắng gìn giữ Đạo pháp rất tròn. Hiện nay, có nhiều Gánh tín đồ rất giàu có và đông hơn trước đây. Có một số Gánh ở vị trí giặc giã bị đạn bom tàn phá, gây ra nhiều cảnh đau lòng.

Trong phần này, chúng tôi cam kết sẽ cố gắng tìm kiếm thêm tài liệu về các vị đi truyền Đạo hay những người trị bệnh cứu người xa xôi như ông Trần ở núi Nứa, ông Sư ở Cù lao Ông Hổ, bà Hà thị Hương, hay còn gọi là Bà Nam Dội ở Cỏ Lao và một vị Đại đệ tử ở Cao miên. Tuy nhiên, chúng tôi hiện chưa tìm thấy tài liệu về những vị này và mong muốn được sự giúp đỡ từ các Thiện tín. Nếu có được thêm tài liệu đáng tin cậy, chúng tôi sẽ bổ sung vào phiên bản tái in.

II.- CÁC PHÁP MÔN CỦA ĐỨC BỔN SƯ GIÁO TRUYỀN.

Đức Bổn Sư cũng giáo dục người Tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa theo Phật pháp Thiền Tịnh song tu, và nhập thế gian Tu Nhơn Học Phật như Đức Phật Thầy Tây An. Ngoài những điều cơ bản đã được đề cập, Ngài cũng dạy tín đồ học thêm về công quả để bổ sung cho sự quá dễ dãi của thuyết Học Phật Tu Nhơn và phải rèn luyện đúng nghĩa của câu: Phật Thánh Tiên tam giáo đồng nguyên.

1/- Trì Niệm theo Thiền Tông:.

Bên cạnh việc phụng kinh và cầu siêu cho những linh hồn đã qua đời, người tu sĩ còn phải liên tưởng đến 18 tay pháp để giúp tâm hồn không bị dao động, tránh để cho những ý tưởng tiêu cực xâm nhập vào.

2/- Xử sự theo Nho Giáo:.

Người tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa cần tuân thủ tinh thần Nho giáo trong phép xử sự, bao gồm tôn kính Trời đất, tôn trọng Thần Thánh, thờ cúng Tổ tiên, hiếu thảo với Cha mẹ, giữ phép nước, tôn trọng Thầy, yêu mến Anh em, giữ chữ Tín với Bạn bè, có nghĩa với bà con, hòa thuận và giúp đỡ xóm làng v.V…

3/- Rèn luyện Tinh Khí Thần theo Lão Giáo:.

Ngoài việc tự tận hưởng cuộc sống theo giáo lý Phật giáo, Ngài còn dạy dỗ cho các đệ tử rèn luyện tâm, hơi, và linh theo phương pháp của Lão giáo. Sau đây chúng tôi trích dẫn một phần trong Tam Mao Chơn Kinh:

… Cốc hư ứng thinh,.

Tâm hư ứng Thần,.

Thần hư ứng Khí,.

Khí hư ứng Tinh.

Hư cực tắc minh,.

Minh cực tắc quýnh.

Siêu hồ tinh thần,.

Nhi vô tử sanh.

Tinh tùng nội thủ,.

Khí tự ngoại sanh,.

Dĩ khí thủ Tinh.

Khả dĩ trường sanh.

Lược dịch:.

Cái hang trống gió luồng vào có tiếng kêu.

Tâm mà đặng trống không thì ứng đến Thần.

Thần mà trống không thì sẽ ứng đến khí huyết.

Khí huyết mà được trống không thì ứng đến tinh thần.

Nếu tập luyện đến Tinh, Khí, Thần đều rỗng không (Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc) thì mọi con đường tối tăm đều trở nên sáng sủa, khi sự sáng tới đỉnh cao thì ánh sáng đó sẽ tỏa ra bao quanh (hào quang).

Tinh thần đến bực Siêu việt như vậy, thì không còn lẩn quẩn trong vòng sanh tử nữa….

4/- Ấn khuyết, Thần chú theo Mật Tông:.

Ông cũng tập trung vào việc kéo dài đời sống của Ấn Khuyết Thần chú như Mật Tông của tôn giáo Phật giáo, do đó ngoài việc thực hành và đọc thành tiếng, các giáo sĩ còn niệm thầm và tập trung rèn luyện ấn khuyết trong 20% thời gian tu học của họ.

Nghe đồn rằng: Trong khi Ngài còn sống, Ngài khuyên các tín đồ nỗ lực rèn luyện kỹ năng Ấn chú để khi đến lúc tham gia Hội Long Hoa, những người được định mệnh tham gia không thể diễn đạt bằng lời nói, mà chỉ có thể sử dụng Ấn chú. Và các câu Ấn chú và cách ấn sẽ thay đổi phù hợp với từng tình huống.

Trong suốt 14 năm giảng dạy, Đức Bổn Sư đã tập trung vào các pháp mà dạy cho tín đồ từ cấp Sơ đẳng cho đến Cao đẳng, để bổ sung cho sự giản dị của Đức Phật Thầy Tây An. Tuy nhiên, sau khi Ngài qua đời, các pháp của Ngài đã bị một số người biến tấu sai lệch. Ví dụ như, phần rèn luyện Tinh Khí Thần đã bị biến thành bí quyết tu luyện độc thân tại am cốc, cầu kỳ với bản thân, xem như đã đắc pháp với Tiên gia, thể xác lập dị, không còn hòa hợp với xã hội hoặc các tôn giáo khác! Phần Ấn khuyết Thần chú theo Mật tông, thì cũng đã bị một số người sử dụng để làm bùa chú của Thầy Phù Thủy để sái đậu thành binh, điều khiển quỉ. Vv…

Tuy nhiên, do hoàn cảnh và thời đại, những người theo đạo dầu có thể không có đủ thời gian và không gian thuận tiện để tìm hiểu sâu hơn về các phương pháp của Ngài. Hơn nữa, không ai dám hy sinh bản thân để theo đuổi con đường tu học của Ngài đến mức đến nơi đâu cũng được.

Vì cuộc sống hiện đại và hoạt động xã hội, hầu như tín đồ phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản, luật giới đại khái và không vi phạm tôn chỉ Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Họ vẫn thực hiện các nghi thức tôn giáo, nhưng các phương pháp cao siêu chỉ được thực hiện theo truyền thống, chưa ai nghiên cứu và đưa ra các phương pháp tinh tế hơn.

5.- KINH CHÚ, GIẢNG VÀ SẤM NGỮ:.

Những bài giảng của Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa rất đa dạng, được phân loại theo nhiều hình thức và danh xưng khác nhau. Có phần trì tụng tại chùa miếu, phần công phu bái sám tại nhà, phần niệm kinh khi cúng dường và phần đặc biệt dành cho các ngày lễ và ngày vía. Bên cạnh đó, còn có phần mật niệm với nhiều ẩn ngữ và kinh chú bằng tiếng Phạn.

Nội dung cổ điển có nhiều khác biệt, bao gồm luận về pháp Thượng Thừa của nhà Phật (như Kim Cang, Bát Nhã), luận về đạo hiếu và báo đáp Tiên Linh (như kinh Hiếu Nghĩa), ghi danh tánh của những vị cao đồ, trung thành hoặc tử vì Đạo pháp (như Siêu Thăng kinh), danh sách của các liệt vị Thánh Hiền Tiên Phật cổ kim (như Phổ Độ kinh) và danh sách của những Hung thần ác sát (như Cảm Ứng kinh). Hầu hết các kinh kệ này thường có Thần chú chữ Phạn. Đặc biệt, quyển THIÊN ĐỒ KINH có nhiều bài KỆ vần điệu rất điêu luyện và từ ngữ rất văn hoa. Tuy nhiên, ý nghĩa của nhiều đoạn trong kinh rất bí ẩn và thường sử dụng địa danh khác nhau, đặc biệt là địa danh nước Tàu thời cổ để ám chỉ một tai họa sắp xảy ra hoặc thời gian và không gian biến đổi, rất khó để đoán chắc. Sau đây là một vài đoạn trong Thiên Đồ Kinh để làm ví dụ.

Yên Triệu vô nhơn chưởng,.

Ngô Việt thậm xướng cuồng.

Có nghĩa là :.

Nước Yên nước Triệu không người gieo giống,.

Nước Ngô nước Việt rất khờ dại. V.V….

Ngoài ra, còn có các đoạn nói về các cuộc nổi dậy quân sự, xung đột đầy hỗn loạn, tuy nhiên không rõ chúng diễn ra vào không gian và thời gian nào. Thời gian được tính bằng phương pháp Can Chi giống như cách tính ngày tháng của người Trung Quốc, do đó không thể chắc chắn rằng các sự kiện này xảy ra trong một thời kỳ cụ thể nào.

Binh tướng như phong võ,.

Xuẩn xuẩn khới tứ phương.

Nam nhi giai khứ tận,.

Phụ nữ vận y lương.

Có nghĩa là:.

Binh tướng như giông bão,.

Chen lấn dậy bốn phương.

Trai tráng đều đi hết,.

Phụ nữ phải vận lương.

Dựa trên bài Kệ trên, đó là ý nghĩa đen của câu, tuy nhiên chưa rõ ý nghĩa ẩn chứa trong đó, như thời gian và địa điểm cụ thể.

Có đoạn đọc lên cho thấy rằng trong đó có ẩn ý chứa đựng nhiều chữ phụ ghép lại thành chữ chính. Nếu đó là chữ phụ ghép thì không thể hiểu được ý nghĩa, và cũng không ai biết chữ phụ ghép như thế nào lại được ghép lại thành chữ gì? Nó ám chỉ vào thời gian nào? Nhân vật nào? Ví dụ như:

Tam nhơn lưỡng Đinh danh tri phủ,.

Vấn tánh thốn mộc liên tam khẩu.

Ngô diệt vi chi vị hiển dương,.

Tương phùng định tại Dần Mẹo hậu?

6.- TAM SAO THẤT BẢN:.

Tất cả các tác phẩm cổ đã tồn tại từ thời Đức Bổn Sư khi còn sống, và đã được sao chép nhiều lần trong suốt hơn một thế kỷ (1876 – 1971). Việc sao chép này đã được thực hiện bởi rất nhiều tác giả khác nhau và đã được thực hiện bằng tay.

Việc sao chép bằng tay có thể dễ dàng mắc sai lầm với bản gốc, vì những người sao chép chưa chắc đã có kiến thức về chữ Hán, đặc biệt trong các thời kỳ khác nhau. Ban đầu, việc sao chép được thực hiện cẩn thận, có người đảm nhận việc giám sát để đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, khi đạo sao chép trở nên phổ biến hơn, nhiều tổ chức chùa miếu, cúng kiếng tụng niệm và nhiều người tụng niệm đã xuất hiện, dẫn đến sự mất nề nếp của tổ chức sao chép cũ. Bất kỳ ai cũng có thể thực hiện việc sao chép, miễn là đáp ứng được nhu cầu về số lượng. Tuy nhiên, nguy hiểm nhất là những người chỉ muốn tập viết để sao chép các kinh điển, sớ điệp và các tài liệu khác (trong đó phần lớn được sao chép bởi những người sau này).

Ngoài ra, cách viết chữ Hán là một phương thức khó học và khó viết nhất, ngay cả với các quốc gia khác trên thế giới. Nếu bạn quên một chữ nào, sẽ rất khó khăn để viết lại, không giống như chữ La Tinh. Nếu viết sai một dấu hoặc một chấm, chữ đó sẽ có nghĩa khác. Đôi khi, những từ có cùng âm nhưng khác chữ và nghĩa rất khác nhau khi được viết ra.

Vì vậy, việc sử dụng “Tam Sao Thất bản” có thể dẫn đến những câu kinh không chỉ sai nghĩa, lạc vần mà còn có nhiều câu ý nghĩa khó hiểu. Dưới đây là một số ví dụ để chúng ta cùng thảo luận và đánh giá. Trích từ hai câu Kệ trong kinh Siêu Thăng:

… Linh hồn hấp tợ nhứt cô ”châu”,.

Triêu triêu nhựt nhựt thủy thượng du.

Có nghĩa là:.

Tinh thần của các tổ tiên giống như một chiếc thuyền hoang đánh mất hướng về đâu cũng không biết, lênh đênh trên dòng nước suốt cả ngày đêm.

Trong hai câu Kệ này, từ “châu” (con thuyền) được sử dụng làm Chủ từ, đại diện cho Linh hồn. Tuy nhiên, ở một số chỗ, từ “châu” được thay thế bằng từ “Đơn”. Tuy chỉ khác nhau đúng một phần nhỏ trên đầu, nhưng điều này đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa và vần điệu của bài Kệ. Vì từ “Đơn” có nghĩa là màu đỏ.

Một thí dụ khác, như bài Kệ trong Hiếu Nghĩa kinh, đoạn kể về Lịch sử của Đức Bổn Sư:.

… Ngô bổn tôn (tông) sở hiệu.

Kế đạo sở thành năng….

Có nghĩa là :.

Danh hiệu vốn dòng họ Ngô.

Nối theo mối Đạo đã thành đạt. (BSKH).

Có thể đây là một trong những trường hợp “đồng âm dị nghĩa” khi phát âm giống nhau nhưng có nghĩa khác nhau như đen và trắng. Tại sao lại sao chép từ “Ngô” và “Tôn” có nghĩa là “cao” (Tôn ty =: Cao thấp) thay vì từ “Tôn” # “Tông” có nghĩa là dòng họ. “Ngô Bổn Tôn” =: Gốc của dòng họ Ngô. Nếu chép lại “Ngô Bổn Tôn”: Tôi vốn cao .V.V… Như vậy, ý nghĩa lại cách xa nhau quá đáng? Hơn nữa, Phật không thích bản ngã ở đây không chỉ xưng tôi mà còn thêm “Tự Tôn Tự đại” nữa, vì vậy chúng tôi có thể chắc chắn rằng tại Tam sao Thất gốc làm sai lạc ý nghĩa, không thể có trường hợp như này.

Có nhiều điểm tương tự nhưng do quyển sách bị giới hạn về không gian nên không thể trích xuất tất cả ở đây, chúng ta hãy tìm hiểu thêm. Tuy nhiên, người đọc hiện nay luôn muốn đọc những điều thú vị, bởi vì họ tin rằng viết như thế nào trước đây thì phải giữ nguyên, không được chỉnh sửa.

Chúng tôi cũng không thể đánh giá ý kiến của quý vị là đúng hay sai, nhưng chúng tôi muốn đóng góp một số ý kiến thô thiển vào chủ đề này: Dựa theo sử sách Phật giáo, 4 tháng sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, hai vị cao đồ là A Nan và Ca Diếp đã triệu tập tất cả các vị Đạo cao Đức dài trong Đạo lại, với mục đích là ghi lại những lời giảng dạy của Ngài trong 40 năm để chép thành kinh điển. Hơn 2.000 năm sau, có những vị cao đồ quán thông Phật pháp cổ kim như Mã Minh và Long Thọ Bồ Tát cũng đã ghi lại và sắp xếp lại Phật kinh. Nhờ đó, ba tạng Kinh, Luật, Luận của Phật cho đến ngày nay (hơn 20 thế kỷ) rất ít sai lệch từ chữ đến ý.

Nếu những người có trách nhiệm trong Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa đọc văn bản đó và cảm thấy bối rối, chúng tôi lo rằng sự hiểu biết về giáo lý của Đức Bổn Sư sẽ ngày càng bị thay đổi khỏi nguồn gốc ban đầu.

III.- GẦN ĐÂY TÍN ĐỒ VẪN CÒN GÁNH CHỊU PHÁP NẠN.

Sau khi Đức Bổn Sư viên tịch, các tín đồ ở các thôn đã được ông Trò và ông Gánh hướng dẫn để lập căn cư tại bốn thôn. Tuy nhiên, những tín đồ ở nơi khác đã không thể đến đây do hoàn cảnh gia đình, thời cuộc và sanh kế của họ. Tuy vậy, họ vẫn giữ Đạo và đến lễ bái ít nhất hai lần mỗi năm vào mùa cúng vào 5 năm tháng đầu năm, ngày Vía và ngày Lễ.

Khi những người đến từ khắp nơi đến núi Tượng, họ không khác gì những người sinh sống tại đây, có nghĩa là tất cả mọi người đều được chăm sóc và quan tâm bởi ông Trò hoặc Cư sĩ của gánh đó. Hoạt động tôn giáo được duy trì đều đặn trong suốt 40 năm. Đến năm Canh Ngọ (1930), các quan chức đánh giá rằng việc xây dựng chùa miếu bằng tranh và lá sẽ dẫn đến nguy cơ cháy nổ nên tín đồ đã đóng góp vật liệu và tiền bạc để xây dựng lại tất cả các chùa miếu bằng xi măng, lợp ngói và xây tường bằng gạch, đá, v.V… Từ đó, các ngôi chùa miếu không còn mang nét đơn sơ của mái tranh và vách lá nữa, mà hầu hết đều được sơn trắng và lợp ngói, hòa quyện với màu xanh rừng của Thất Sơn Huyền Bí.

1/- PHÁP NẠN LẦN THỨ TÁM:.

Năm Ất Dậu (1945), 15 năm sau khi tín đồ chung đậu xây dựng chùa miếu bằng vật liệu nặng, đất nước Việt Nam trải qua một cuộc chiến tranh đẫm máu để đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước. Vì lo ngại giặc Pháp sẽ chiếm đóng các cơ sở này, các quan chức đã ra lệnh phá hủy tất cả những công trình được xây dựng bằng vật liệu nặng.

Vì vậy, những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa phải vượt qua nỗi sợ hãi để phá hủy những công trình mà họ đã xây dựng trước đó. Kết quả, các ngôi chùa miếu trước đây được xây bằng lá tranh cũng trở lại với màu sắc tối giản của lá tranh. Tuy nhiên, họ không hủy hoại hoàn toàn mà mong muốn được phép phá tường và tuôn ngói, thay vì phải phá hủy hoàn toàn toàn bộ công trình. Điều này cho phép những ngôi chùa miếu này được xây dựng bằng nhiều chất liệu khác nhau như lá, nền đúc và vách tranh. Dù là với ngói, gạch hay tranh, người theo đạo vẫn tôn trọng giá trị tinh thần của chùa miếu, và vẫn thường xuyên bảo vệ và cúng dường chúng.

2/- PHÁP NẠN LẦN THỨ CHÍN:.

Liệu Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩ vẫn còn thiếu sự hiểu biết với người Pháp? Vào ngày 24 tháng 7 năm Đinh Sửu (1949), họ đã tấn công núi Tượng, phá hủy tất cả chùa miếu và hàng ngàn gia đình của tín đồ, giết hại nhiều người vô tội. Họ bắt giữ và tra tấn hàng trăm người, trong khi tài sản bị thất thoát không kể xiết.

Sau năm đó, người theo đạo tập trung tại những cảnh vật cũ xưa chỉ còn thấy những đống tro tàn và vật dụng hư hỏng lộn xộn. Mặc dù phải sống trong môi trường khắc nghiệt khi màn trời chiếu xuống đất, thiếu đồ ăn, quần áo và thuốc men, nhưng họ không bỏ qua việc xây dựng lại những ngôi chùa bị cháy đổ và lắp đặt những tạm che để tránh nắng mưa. Từ đó, hoạt động tôn giáo của họ chủ yếu diễn ra vào ban đêm và hạn chế tụ tập đông đảo vào những ngày lễ.

Những người tín đồ theo TÂHN đã trải qua quá nhiều lần tai hoạ, ban đầu họ còn sợ hãi và kêu ca nhưng sau đó trở nên thản nhiên trước sự tàn ác của cái chết.

Khi mái nhà này bị cháy, họ đã dùng mái khác để che chắn. Khi ngôi chùa này bị giặc triệt hạ, họ đã xây lại ngôi chùa khác. Họ có đức tin kiên định trong việc bảo vệ cơ sở của Thầy Tổ.

Sau khi chịu đựng như vậy cho đến năm 1966, các ông Gánh đã hợp tác với tất cả tín đồ, kẻ công và người dân để tái thiết lại những ngôi chùa miễu đã bị hủy hoại bằng vật liệu nặng. Nhưng lần này, họ đã xây dựng những ngôi chùa miếu mới, hiện đại và bền vững hơn. Mỗi khi có Lễ lộc lớn thập phương Bổn Đạo tụ tập, số lượng người đến đây càng tăng lên.

3/- SỰ SINH HOẠT CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ HIỆN NAY:.

Như đã đề cập ở phần trước về các chức năng của ông Gánh và người tín đồ trong sinh hoạt tôn giáo. Tại đây, chúng tôi muốn đề cập đến việc sinh hoạt của người tín đồ trong cộng đồng.

Thôn An Định (hiện tại là ấp An Định thuộc xã Ba Chúc, quận Tịnh Biên, Châu Đốc) được coi là Trung tâm hoặc nơi phát sinh của Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Vì đây là điểm đầu tiên của Đức Bổn Sư khai sáng nền Đạo. Hai ngôi chùa: Phi Lai và Tam Bửu là nơi Đức Bổn Sư trú ngụ và tu tập. Do đó, các Lễ lộc quan trọng đều được tổ chức tại đây.

Các tín đồ ở địa phương này cũng có đủ các nghề như nông, công nghiệp và thương mại như các nơi khác trên toàn quốc, nhưng với tánh cách Thủ Công nghiệp cổ truyền chưa được Kỹ nghệ hoá hoặc nhờ sự giúp đỡ kỹ nghệ hóa. Đặc biệt, ở địa phương này, nghề nhổ Bàng Đương Đệm rất phổ biến. Mỗi sáng khoảng 5 giờ, tiếng giã bàng vang lên từ đầu làng đến cuối xóm. Nguồn lợi Đệm ở đây cũng rất lớn. Nếu họ áp dụng kỹ nghệ vào Thủ công, nền kinh tế của đất nước sẽ có thêm một thị trường Đệm đáng kể.

Gần đây, nghề nhổ cây Bàng cũng giảm sút đáng kể do những nơi có cây Bàng mọc nhiều và tốt thì an ninh không được đảm bảo, có nhiều người phải bỏ mạng trên vùng đất có ruộng Bàng! Vì vậy, việc di chuyển để tìm nguồn tài nguyên thiên nhiên này ngày càng trở nên khó khăn hơn.

Phong cách sống của tín đồ Hiếu Nghĩa không quá chú trọng đến vật chất, vì hầu hết đều để tóc dài, do đó trang phục không yêu cầu theo xu hướng thời trang quá đắt đỏ. Dù phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, tín đồ vẫn giữ trọn niềm tin, tôn kính Đạo và không bỏ lỡ bất kỳ lễ nào trong Đạo. Dù có phải làm việc đầy vất vả, họ vẫn không bỏ lỡ một lễ bái công phu trước mọi hoàn cảnh và luôn lắng nghe tiếng chuông đánh thức sớm và đưa về đêm.

IV.- HỆ PHÁI ”TỨ ÂN HIẾU NGHĨA” TRƯỚC THỜI CUỘC.

Nếu không trình bày đầy đủ trên trang giấy, chắc chắn không nhiều người hiểu được hoàn cảnh khó khăn, đau đớn của người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Có nhiều người thường nói: Đi tu là tự mình đã chấp nhận mọi thử thách khó khăn. Nếu còn lo lắng về vật chất xa hoa, tốt hơn là sống ngoài xã hội để tránh đua tranh danh lợi.

Không biết liệu vì lý do đó mà Đức Bổn Sư đã lựa chọn một không gian đặc biệt, đầy thử thách để rèn luyện cho các tín đồ. Thêm vào đó, sự kiện đó kéo dài liên tục mà không có dấu hiệu dừng lại.

Thời gian và không gian đó có thể lọc được những điều tốt và xấu trong giới tín đồ, giống như một cuộc đua không giới hạn thời gian, nơi ai cũng có thể thắng hoặc thua. Nếu sự loạn lạc kéo dài, con người sẽ dễ dàng bộc lộ bản chất của mình.

”Con Phật, Phật dẫn, Con ma, ma dắt”. V.V….

Theo tài liệu, từ khi Đức Bổn Sư khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho đến khi Ngài dẫn tín đồ vào núi Tượng, nền đạo của Ngài đã trải qua thời kỳ đánh chiếm miền Nam của Pháp từ năm 1860 đến 1876. Trong suốt 16 năm đó, Ngài đã phải ẩn nấp, giả trang để truyền đạo cho mọi tầng lớp người, một thời gian vất vả không kể xiết.

Lúc Ngài đến khai hoang ở núi Tượng, mặc dù tiếng đạn bom đã yên tĩnh, nhưng việc thành lập một cơ sở truyền bá giáo thuyết mới thì rất khó khăn. Vì chính quyền Pháp đang sử dụng thuyết mị dân để khiến người dân quên gốc rễ, để họ tổ chức một chính quyền theo lối chánh trị của họ. Vì vậy, họ rất sợ các tổ chức đảng phái, nên đã quyết định tiêu diệt các đảng phái. Tình trạng khó khăn kéo dài đến năm 1888, họ đã tổ chức cơ chế cai trị trước khi đưa ra lệnh hòa giải.

Sau đó, đền miếu mới tạm thời ngừng bị tiêu diệt và phá hủy. Người theo đạo mới tạm thời sống trong sự bao bọc của thực dân Pháp trong hơn 50 năm!

Từ năm 1945 đến 1971, chùa miếu và nhà cửa của người tín đồ đã chịu đựng nhiều khó khăn. Trong suốt 25 năm đó, những người tín đồ ở vùng Bảy Núi, đặc biệt là núi Tượng, đã phải trải qua vô số cay đắng và lạ tai. Họ đã phải chịu đựng những cảnh tượng khủng khiếp của chiến tranh, và không biết bao nhiêu lần phải chịu đạn bom máu lửa. Tuy nhiên, họ vẫn kiên trì vượt qua mọi khó khăn để tiếp tục sống.

Nhiều tình huống quá khó khăn, nhưng những người theo Tứ Ân Hiếu Nghĩa vẫn kiên nhẫn chịu đựng. Hy vọng duy nhất của họ là quá khứ đã trải qua nhiều khó khăn, liệu tương lai có thể sáng sủa hơn không? Vì Thầy đã dạy:

Giữ lòng neo nọc cho bền,.

Gió lay mặc gió vững thuyền thì thôi….

Dù cuộc sống đầy sóng gió, họ vẫn kiên cường điều khiển chiếc thuyền TÂNH của Tổ Thầy để đến ngày hội LONG HOA, hy vọng tương lai sẽ tốt đẹp hơn.

Theo sấm ký và kinh kệ của Phật giáo BỬU SƠN KỲ HƯƠNG, Hội Long Hoa được đề cập nhiều. Vì vậy, cộng đồng Phật tử BSKH đều có niềm tin chung và chờ đợi ngày Hội Long Hoa để được Phật giải oan trừ án. Họ kiên nhẫn chịu đựng những khó khăn, từ chối lợi danh phù phiếm để đạt được phúc lớn trong tương lai.

Trong thời kỳ Đức Bổn Sư còn sống, Ngài luôn hành động theo tinh thần bác ái của đạo Phật. Ngài thường làm tấm gương cho các tín đồ noi theo và tuân thủ giới luật. Bên cạnh những người ngoài đạo gây khó khăn cho đạo phật, người trong đạo cũng có những kẻ phản bội, hành hạ Ngài và gây ra những hậu quả thảm khốc do Tham, Sân, Si. Ngài giảng giải về nhân quả và truyền cảm hứng cho tín đồ giữ chặt đạo, tránh xa những hành vi sai trái.

Do đó, hầu hết phật tử đều rất sợ hậu quả của nhà Phật, và theo thuyết “gieo nhân nào, gặt quả đó” của Đạo Nho, vì vậy họ vẫn giữ Đạo, tu tập, đoàn kết và tuân thủ pháp luật của đất nước, chờ đợi ngày Phật Trời thưởng công và xóa tan tội lỗi.

KẾT LUẬN:.

Phật Giáo Bắc Tông Khai Hóa được Thầy Tây An khởi xướng đã tồn tại hơn 100 năm (1849-1971). Trong suốt thời gian đó, vì hoàn cảnh hay thời đại khác nhau mà Phật Giáo Bắc Tông Khai Hóa phân thành nhiều phái, nhưng bản chất của tu học vẫn như cũ: những người tăng ni tại gia vẫn tôn thờ ”Tứ Đại Trọng Ân” và theo đuổi con đường tu học Phật giáo.

Mặc dù thời gian và không gian khác nhau, các Hệ phái vẫn có nguồn gốc chung và cùng chia sẻ tinh thần tâm linh. Trong suốt hơn 100 năm, Phật Giáo BSKH đã trải qua nhiều thăng trầm, có lúc tòa nhà BSKH gần như bị cuốn trôi bởi giông bão, nhưng tín đồ vẫn giữ vững nguồn gốc và khi giông bão qua đi, họ lại hợp lại như những cánh bèo vỡ tan.

Quá khứ là vậy, hiện tại còn đó. Nhưng tương lai thì sao?

Câu hỏi đó chỉ đợi thời gian để có câu trả lời vững chắc nhất, và chỉ có những người trong cuộc mới có thể trả lời được. Điều đó chứng tỏ tình yêu với BSKH là chung của tất cả mọi người.

LƯỢC SỬ NGÔI LONG ĐÌNH Của ĐỨC BỔN SƯ Hệ phái TỨ ÂN HIẾU NGHĨA tại núi Tượng.

Ngài là một trong 4 vị Giáo chủ Phật Giáo BỬU SƠN KỲ HƯƠNG.

Vào năm Kỷ Mão (1879), Ngài yêu cầu đệ tử của mình lên núi Dài để đốn cây Cam Đàn (một loại gỗ quý hiếm) và chọn thợ khéo trong hàng đệ tử để đóng ngôi Long Đình (Long Vị) theo kiểu Ngài vẽ và đo bằng thước tấc. Sau khi đóng xong, Ngài cho khiêng ngôi Long Đình vào trung tâm Chùa Tam Bửu. Trên đó còn có một cặp gối xưa và một cặp thước Lổ Ban Xích và bản tiền, bản phái. Nhiều người trong hàng bá gia nghĩ rằng Ngài sẽ dùng chúng để tham Thiền nhập định, nhưng Ngài đã sử dụng chúng để tôn kính một đấng bề trên đang vắng mặt.

Bá Gia (hay còn gọi là Đức Bổn Sư) là nơi tập trung đông đảo tín đồ, trong số đó có nhiều người theo phái Cần Vương chống lại thực dân Pháp. Tuy nhiên, điều này đã khiến cho giặc Pháp theo dõi và tấn công, tàn sát và đốt phá nhiều chùa miếu. Năm 1885, trong lần pháp nạn Ất Dậu, Đốc phủ Trần Bá Lộc đã hướng dẫn giặc Pháp và thân binh đến Bá Gia để đốt nhà cửa và sát hại những người yêu nước và mến Đạo. Các cơ sở tín ngưỡng bị phá hoại hoàn toàn, bao gồm cả Ngôi Long Đình.

Sau đó, bá gia không biết liệu vật báu thiêng đó đã bị giặc phá hủy hay còn tồn tại. Họ quyết định đóng một Ngôi Long Đình khác, mặc dù không giống hẳn và khéo léo như ngôi trước, nhưng vẫn đủ để thờ phượng tại nền đất cũ, giống như việc thờ Đức Bổn Sư tại chùa Tam Bửu ngày nay.

Vào năm 1935, không rõ vì lý do gì, Trần Bá Tư (con trai của Trần Bá Lộc) đã đưa ngôi Long Đình vào Bảo tàng Viện Sài Gòn. Kể từ đó, gia đình Bá thường đến đó để ngắm nhìn, nhưng không thể lấy lại được bởi vì ngôi Long Đình đã trở thành tài sản của Quốc gia.

Vào ngày 8 tháng 5 năm 1970, các phái thuộc Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, được gọi là Hội Đồng Liên Phái Trung Ương, đã gửi Thỉnh nguyện thư xin ngôi Long Đình về chùa Tam Bửu. Đồng thời, họ đã công bố trên các phương tiện truyền thông về nguồn gốc của ngôi Long Đình. Họ cũng đã yêu cầu các cơ quan văn hóa chính phủ xem xét lại vấn đề này và trả lại ngôi Long Đình cho Tôn Giáo.

Vào ngày 21-11-1970, ông Trần văn Ân, Phụ tá Đặc biệt Nghiên cứu Chánh trị Văn hoá Phủ của Tổng Thống, đã giải thích lý do vì sao ngôi Long Đình nên được hoàn trả lại cho chùa Tam Bửu của Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa tại núi Tượng, Thất sơn (Châu Đốc) và được Tổng Thống chấp thuận.

Bởi vì các thủ tục phức tạp, cho đến ngày 06-04-1971, Tổng Thơ ký của Phủ Thủ Tướng mới ký bản Văn thơ được phê chuẩn theo chỉ thị của Tổng Thống.

Vào ngày 11-05-1971, Giáo hội Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương – Tứ Ân Hiếu Nghĩa tổ chức Lễ cung thỉnh Ngôi Long Đình tại Bảo Tàng Viện Sài Gòn.

– Đại diện Chánh phủ có ông Trần văn Ân ký giao hoàn.

– Đại diện Tứ Ân Hiếu Nghĩa ký nhận lãnh.

Vào ngày 12-05-1971, đoàn xe cung nghinh Ngôi Long Đình xuất phát từ Sài Gòn đến Châu Đốc và dừng lại ở đây 1 đêm để các thiện tín tham quan.

Ngày 13-05-1971, đoàn xe cung nghinh Long Đình khởi hành từ Châu Đốc về núi Tượng, Chùa Tam Bửu.

Vào ngày 14 và 15-05-1971 (tương đương ngày 20 và 21/05 năm Tân Hợi), Ban Tổ chức Giáo hội Phật giáo BSKH – Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã tổ chức Đại lễ an vị Ngôi Long Đình và Khánh thành chùa Tam Bửu.

MỤC LỤC.

Lời Giới Thiệu của Giáo Sư Trần văn Quế trang.

Lời Người Biên Soạn —.

A- PHẦN QUÁ KHỨ.

I. THỜI KỲ KHAI SÁNG —.

1)- Đức Bổn Sư tiếp nối hoằng hóa BSKH với danh xưng Tứ Ân Hiếu Nghĩa. —.

2)- Sự tương quan giữa thời gian dạy đạo và không gian thiết lập Chùa, Miễu. —.

3)- Hình thức tu học của Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa —.

A) – Tôn Chỉ —.

B) – Nghi Thức —.

C) – Trang Phục —.

D) – Hành Đạo —.

Đ) – Cúng Dường —.

II. TỨ ÂN HIẾU NGHĨA VÀ HỌC PHẬT TU NHƠN —.

1) – Tu Nhơn —.

2) – Học Phật —.

3) – Do đâu có danh xưng Tứ Ân Hiếu Nghĩa —.

III. SỰ LIÊN HỆ CỦA PHẬT GIÁO BSKH —.

1) – Những điểm dị biệt —.

2) – Những điểm tương đồng và trùng hợp —.

3) – Nguyên do những điểm khác biệt —.

IV. HỆ PHÁI TỨ ÂN HIẾU NGHĨA VỚI NHỮNG LẦN PHÁP NẠN —.

1)- Pháp nạn lần thứ nhứt —.

2)- Pháp nạn lầu thứ hai —.

3)- Pháp nạn lần thứ ba —.

4)- Pháp nạn lần thứ tư —.

5)- Pháp nạn lần thứ năm —.

6)- Pháp nạn lần thứ sáu —.

7)- Pháp nạn lần thứ bảy —.

8)- Tái thiết Chùa Miễu —.

V. NHỮNG ĐIỀU LINH ỨNG VÀ HUYỀN DIỆU —.

1)- Tiên tri việc dời sai nền chùa —.

2)- Tiên tri Pháp khủng bố chạy loạn Vườn Dầu —.

3)- Chuyện Ông Cử Đa —.

4)- Chứng quả người tự thiêu —.

5)- Tiên tri cuộc phản Thanh phục Minh —.

6)- Cuộc mở ếm ở Thủy Đài sơn (Núi Nước) —.

7)- Hổ cử sát sanh —.

8)- Chứng Đại trai đàn —.

9)- Quày chuối cơm non —.

10)- Giới tửu – Răn uống rượu —.

11)- Thử Thầy trở thành đệ tử —.

12)- Giới tham – Răn lòng tham —.

13)- Làm Thầy ăn thịt Tướng —.

14)- Một bài thơ nhiều chữ Bất —.

15)- Chuyện đi đầu thai —.

16)- Ý nghĩa Chuyện đời tới 1 và 2 —.

17)- Tờ cử Ông Cả (Cọp) hồi cất đình An Định đầu tiên —.

18)- Chuyện chim Se Sẻ —.

19)- Chuyện củ Nừng (kỵ lửa và kỵ nước) —.

20)- Lời dặn sau cùng —.

21)- Quật mồ thân sinh thầy Cai Tổng —.

22)- Phá ám cho người tín đồ —.

B.- PHẦN HIỆN TẠI.

I. Những di tích và Giáo lý được lưu truyền —.

1)- Di tích chùa miễu —.

2)- Tổ chức hội chùa —.

3)- Truyền nhân hay các ông Trò, ông Gánh kế tiếp —.

II. Các pháp của Đức Bổn Sư giáo truyền —.

1)- Trì niệm theo Thiền Tông —.

2)- Xử sự theo Nho Giáo —.

3)- Rèn luyện Tinh Khí Thần theo Lão Giáo —.

4)- Ấn khuyết thần chú theo Mật Tông —.

5)- Kinh, Chú, Giảng và Sấm ngữ —.

6)- Tam sao thất bổn —.

III. Vẫn còn pháp nạn —.

1)- Pháp nạn lần thứ tám —.

2)- Pháp nạn lần thứ chín —.

3)- Sự sanh hoạt của tín đồ hiện tại —.

IV. Hệ phái T. Â.H.N. Trước thời cuộc —.

Kết luận —.

Ngôi Long Đình —.

HẾT.


Posted

in

by

Tags:

Comments

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *